“Inh lả ơi” là một bài hát dân ca dân tộc Thái rất quen thuộc, hầu khắp cả nước đều biết đến. Chỉ với bốn nốt nhạc “son”, “la”, “đô”, “rê” mà nó đã tạo nên giai điệu uyển chuyển trữ tình làm say đắm lòng người. Và cũng chỉ vẻn vẹn hai câu “Khắp núi rừng Tây bắc sáng ngời, mùa xuân đến ngàn hoa hé cười” mà người người hát đi hát lại không thấy chán. (more…)

Theo chân anh Tòng Xôm (bản Mòng, xã Hua La, thành phố Sơn La), chúng tôi đến một bãi cát rộng, nơi con suối Tong chảy vào dòng Nậm La. Anh nói, trước năm 1991 chỗ này là một vũng nước sâu, gọi là Văng Tong, là nơi trú ngụ của thần thuồng luồng, chúa tể của suối Nậm La. Ngày trước, ở đây cũng như dọc theo con suối Tong về phía đầu nguồn là một cánh rừng nguyên sinh rậm rạp. Phía dưới là vũng nước sâu, trong xanh đến rợn người. Không ai dám đi qua đây một mình. Có việc qua đây, ai cũng phải cúi lạy, cả phìa, tạo cũng phải xuống ngựa mà đi bộ. Phụ nữ qua đây đều phải bỏ khăn piêu xuống và lặng lẽ bước đi. (more…)

Người Thái ở Việt Nam có chữ viết khá sớm và ý thức đầy đủ về ghi chép lịch sử dân tộc từ ngàn năm nay. Những tư liệu lịch sử đó bao gồm: Bộ Quam tô mương, Quam phanh mương (hoặc phiết mương), Sử thi Táy pú xớc…
– Quam tô mương (nghĩa là truyện kể về mường): (more…)

Xưa có một cậu bé mồ côi cha mẹ, không nhà cửa, không nơi nương tựa, ngày ngày em phải đi kiếm ăn hết bản này đến mường khác.
Một hôm em lạc đến đất của một tên vua. Tên vua bắt em phải chăn ngựa cho hắn. Từ đấy em phải làm việc vất vả mà ăn đói mặc rách, thậm chí em phải nhai cỏ cùng ngựa để trừ bữa. Sức lực của em ngày càng giảm sút, người em xanh xao, khô đét như con ếch nướng. Thấy em gầy yếu, tên vua thấy ghét nhưng hắn chưa có cách nào để đuổi được. Một hôm, hắn nghĩ ra kế và gọi em đến bảo:
– Này thằng bé! Mày có muốn ở với ta thì đi tìm cho ta một “bông hoa toả sáng ba mường” nghe chưa?
Chẳng biết bông hoa toả sáng ba mường như thế nào, nhưng theo lệnh vua em cứ phải ra đi. Rời khỏi kinh thành em cứ theo hướng mặt trời mọc mà đi, đi mãi, núi rừng ngày một mờ dần phía sau lưng em. Một hôm, đến ngã ba dòng sông, em gặp một ông già tóc bạc phơ. Em chắp tay kính cẩn chào hỏi:
– Cụ ơi, cụ biết ở đâu có bông hoa toả sáng ba mường, xin cụ làm ơn chỉ dùm cháu. Vì cháu phải tìm bông hoa ấy về cho nhà vua.
Ông già nhìn từ đầu đến chân cậu bé rồi chậm rãi nói:
– Ta đã sống trên trái đất này hơn một nghìn năm rồi nhưng chưa hề nghe ai nói là có bông hoa lạ ấy. Cháu cứ đi theo hướng đông này mà hỏi, may có người biết. Rồi ông già tỏ vẻ ngần ngại nói tiếp:
– Thương cháu ta không có gì cho. Cháu mang theo cái nồi này để nấu ăn. Khi nào cháu thấy đói là bỏ gạo vào nồi là tự khắc chín chứ không cần lửa.
Không nản lòng, em bé cảm ơn ông già rồi theo hướng mặt trời mọc mà đi. Đến một đỉnh núi cao, em lại gặp một ông già râu tóc trắng như bọt nước. Em lại chắp tay kính cẩn chào hỏi:
– Cụ ơi, cụ có biết ở đâu có bông hoa toả sáng ba mường, xin cụ làm ơn chỉ dùm cháu với, cháu phải đi tìm bông hoa ấy cho nhà vua mà.
Suy nghĩ một lát rồi ông cụ lắc đầu:
– Bông hoa toả sáng ba mường à! Ta đã sống trên hai nghìn năm ở trái đất này, nhưng chưa nghe ai nói có thứ hoa kì lạ ấy. Cháu thử đi theo hướng đông này đến mường bên hỏi xem có ai biết không. Mà này, đường còn xa. Ta chẳng có gì cho cháu. Cháu hãy cầm vật này đi dọc đường khi gặp nguy hiểm dùng nó hộ thân.
Nói đoạn, ông cụ đưa bộ xà tích cho em bé. Em bé cầm lấy bộ xà tích rồi tiếp tục đi. Đường đi mỗi lúc một khó khăn. Nhưng dốc núi đèo cao càng làm cho đôi chân em thêm cứng cáp, rừng sâu núi thẳm càng làm cho đôi chân em thêm vững chí. Em cứ thế đi, đi mãi. Và đến nay em đã trở thành một chàng trai cường tráng. Hôm ấy, chàng (em bé trước kia) đến một khu rừng rậm. Ở đây có một túp lều nhỏ dựng bên dòng suối trong xanh, mát rượi. Chàng bước lại gần thì thấy một ông già tóc bạc phơ, râu trắng như bông và dài chấm đất. Chàng nhích lại gần rồi kính cẩn chắp tay chào hỏi:
– Cụ ơi, cháu phải đi tìm cho nhà vua một bông hoa toả sáng ba mường. Cháu đã đi khắp rất nhiều nơi mà vẫn chưa tìm thấy. Cụ biết, xin cụ làm ơn chỉ dùm cháu với.
Cụ già nhăn trán suy nhĩ một lúc rồi lắc đầu:
– Ta sống trên trái đất đã hơn ba nghìn năm mà chẳng hề nghe thấy ai nói có bông hoa kì lạ ấy. Cháu thử ra cái hồ ở sau khu rừng này tìm xem may ra thấy. Nhưng đây, ta cho cháu cái túi này, khi nào cháu cần gì cứ bảo nó đi lấy hộ.
Sáng hôm sau, chàng trai dậy thật sớm, rẽ cây vạch lá tìm đến bờ hồ ngồi đợi. Mặt trời đã nhô lên khỏi đỉnh núi, mây mù tan dần về phía trời xa xăm. Bỗng, từ trên trời có ba bông hoa trắng từ từ rơi xuống. Hoa rơi đến đâu ánh hào quang toả sáng đến đấy. Chàng trai đang phân vân không biết nên chọn lấy bông hoa nào thì tự nhiên trong ánh hào quang ấy ba cô gái xuất hiện với dáng điệu uyển chuyển mềm mại, da dẻ hồng hào, xinh đẹp vô cùng. Ba cô cởi xiêm áo để trên bờ rồi cùng nhau xuống hồ tắm. Chàng trai thầm ước lấy được một cô làm vợ thì tự nhiên một bộ xiêm áo của một trong ba cô gái ấy bay vào túi của chàng.
Tắm xong, khi lên bờ, cô em út lúng túng vì không thấy xiêm áo của mình. Thấy vậy, chàng trai liền gọi hai cô chị đến và kể rõ đầu đuôi sự việc rồi trả cho cô em bộ xiêm áo từ túi của mình. Để đền ơn, ba cô tặng chàng trai cái trống và hẹn nếu gặp khó khăn, hãy đánh trống này sẽ thấy các cô đến giúp. Nhưng nhớ rằng nếu anh cần một thì đánh một, cần bao nhiêu thì đánh bấy nhiêu. Nói đoạn cả ba cô gái cùng bay lên trời.
Vô cùng sung sướng chàng quyết định không đi tìm bông hoa toả sáng ba mường nữa và quay về. Về đến kinh thành, chàng trai không thèm lên yết kiến vua mà cứ ngày ngày nhờ chiếc túi vào cung lấy vàng bạc, châu báu đem về chia cho người nghèo. Của cải của vua mất dần, vua lấy làm ngạc nhiên bèn cho quân lính đi dò xét.
Một hôm, bọn lính đến nhà chàng trai nọ, thấy có nhiều của quý, bọn chúng sinh nghi. Chúng hỏi, chàng trai trả lời rằng: “Trong nhà ta không thiếu gì những của quý. Khi ta cần những thứ ấy tự khắc bay đến với ta”.
Bọn lính chạy về tâu với nhà vua. Đoán biết được việc làm của anh, vua tức giận sai lính đi bắt anh về xử tội. Thấy bọn lính của nhà vua đến, anh vẫn đàng hoàng uống rượu và tỏ lời thách thức:
– Ta không gây sự với các ngươi. Nếu các ngươi cứ cố tình bắt ta, khi ta đã nổi nóng thì các ngươi đừng có hối hận.
Trước thái độ ngạo mạn của chàng trai, bọn chúng tức giận vô cùng vì cho đấy là điều vô lễ của kẻ thường dân đối với quân lính và ngang ngược chống lại vua. Bọn lính xông vào. Chàng trai bình tĩnh quăng dây xà tích ra trói gọn từng tên rồi nện cho mỗi đứa một nhát vào đầu, bọn chúng chết cả lũ. Tin ấy đến tai vua, hắn phát khùng bèn sai bọn lính còn lại ồ ạt kéo đến nhà bắt chàng. Nhưng hết tên này đến tên khác, hết bọn này đến bọn kia, chẳng đứa nào kịp trở tay. Còn vài đứa không dám xông vào, sống sót thì “dựng ngược tóc chỏm” mà chạy bán sống bán chết “đánh rơi” hết lệnh của nhà vua ra khỏi trí nhớ. Từ đó chàng trai tha hồ sai túi đến nhà vua lấy các thứ của cải, vàng bạc về chia cho mọi người nghèo khắp bản dưới mường trên.
Bị mất hết của cải và quân lính, tên vua cùng vợ con hết cách sống và lần lượt “biến” thành nguồn thức ăn của giun, mối.
Chàng thanh niên nọ lại vui sướng đem trống ra gõ. Sau ba tiếng trống của anh, lập tức ba cô nàng tiên từ trên trời bay xuống và nàng thứ ba – nàng xinh đẹp nhất – lấy chàng làm chồng. Từ đó, chàng trai cùng toàn dân trong mường làm chủ sông núi và mãi mãi tự do, hạnh phúc.

Thi La là chúa đất Mường Luông, học rộng tinh thông phép thuật, mưu đồ làm bá chủ một vùng đem quân đi chinh phục hơn hai mươi mường lớn nhỏ chỉ còn một vùng duy nhất Chăm Pa là Thi La chưa lấy được. Mường Chăm Pa rộng lớn, dân giàu, quân mạnh nhiều voi trận, ngựa chiến. Chăm Pa có nàng công chúa Ba Bi xinh đẹp có tiếng đang thời phơi phới tuổi xuân.
Chăm Pa lúc này như miếng mồi trước mồm hổ đói. Thi La rỏ dãi như muốn nuốt chửng bất cứ lúc nào. Then thấy Thi La coi thường đất trời, xem tính mạng con người như cỏ cây. Nếu cứ để hắn thì máu của dân vẫn còn chảy chưa hết mùi hôi tanh, người trần gian không bao giờ yên ổn. Phải nhanh tay cứu lấy Chăm Pa. Then cho đứa con trai tài giỏi xuống trần gian đầu thai vào bà chúa đất mường Chăm Pa.
Sau ba tháng, bà đã đẻ được con trai. Chúa Chăm Pa đặt tên làThi Thặt. Được một tháng Thi Thặt mọc đủ răng, biết bò, được hai tháng biết đi biết nói, ba tháng diện mạo oai phong, thân hình cân đối, đoán biết được tình hình thế sự.
Thi Thặt bàn với cha: Chúa Mường Luông đang chuẩn bị quân để chiếm nước ta hơn tháng nữa chúng sẽ đem quân đến biên giới, nếu không tin cha cứ cử người đi dò xem hư thực ra sao.
Đúng như Thi Thặt dự đoán, tháng sau Thi La hành quân đến biên giới, ra yêu sách Chúa Chăm Pa phải ra hàng phục và cống dâng công chúa Ba Bi cho Thi La làm vợ. Lời hắn đanh như thép: nếu không đáp ứng được yêu cầu thì mường Chăm Pa sẽ bị chìm trong biển máu.
Thấy tình hình nguy cấp Thi Thặt xin cha được cầm quân ra trận. Chúa Chăm Pa suy nghĩ trả lời con tuy lớn nhưng chưa đầy một tuổi! Trận mở đầu chưa cần đến con. Thi Thặt xin cha cứ giao việc này cho con đối phó. Cha cứ an tâm ở nhà dõi theo tin vui. Thấy con nói thật lòng và quả quyết, Chúa Chăm Pa giao việc trận mạc cho con đảm nhiệm, Chúa ở nhà lo việc yên dân.
Thi Thặt biên thư trả lời Thi La: Lời ngươi dọa dẫm ta chẳng mảy may sợ hãi, ngươi hãy bỏ thói quen dọa nạt. Việc trận mạc như hai bên té nước, kẻ ướt ít, người ướt nhiều rốt cuộc chiến thắng sẽ thuộc về kẻ mạnh. Nếu ngươi đụng vào đất nước Chăm Pa, ta không giết thì ngươi cũng khắc chết. Cách tốt nhất thì hãy rút lui quân về nước. Tuy chưa giao chiến, theo lẽ trời, chiến thắng bao giờ cũng thuộc về bên chính nghĩa. Trước khi hành động ngươi hãy cân nhắc cho kỹ lưỡng.
Nhận được thư, Thi La bực tức như điên: Từ trước tới nay chưa ai dám mở mồm khuyên bảo mình, thế mà một đứa trẻ chưa đầy năm lại lên mặt dạy đời!
Thấy vậy nhiều tướng lĩnh can ngăn: Đánh vào nước lớn ta phải đắn đo cho kỹ. Đang hành quân chúng ta gặp vệt máu đỏ ngăn đường đó là điều chẳng lành. Lần này xin chúa hãy rút quân đã.
Thi La nói: Đã xuất quân phải giành được chiến thắng. Ta quyết tâm chiếm được đất nước Chăm Pa. Ta chẳng sợ nhãi nhép ranh con. Ta sẽ dạy cho nó một bài học nhớ đời.
Nói đoạn Thi La sắn tay áo hạ quyết tâm hô quân vượt biên giới tiến thẳng vào đất Chăm Pa. Qua cánh đồng đến thành cửa ải. Thi La lại viết thư khuyên Thi Thặt ra đầu hàng tức khắc. Thi Thặt biên thư trả lời: Thi La, ngươi chớ tự coi là kẻ bề trên mà lên mặt đè nẹt kẻ dưới: Thời làm mưa làm gió của ngươi đã qua rồi, nếu đụng vào thành Chăm Pa thì ta sẽ không tha tội chết, nếu ngươi bết điều tự rút quân về nhà may ra còn được sống yên thân vài năm. Không nghe lời ta can, ngươi sẽ phải chết phơi thây, đẫm máu trên mảnh đất này, lúc ấy ngươi muốn hối cũng chẳng kịp. Đây là lời khuyên bảo chân thật, ngươi nên cân nhắc. Nhận được thư, tim gan sôi sùng sục, đầu óc quay cuồng, Thi La không còn minh mẫn. Hạ lệnh đánh vào thành cửa ải Chăm Pa, quân Thi La nghe lời chủ xông vào như chó cắn dê. Biển người cuồn cuộn, khói bụi mờ mịt, trống chiêng vang động, chim muông tan tác. Thi Thặt mở đầu phù phép cảnh cáo quân Thi La, nổi cơn cuồng phong làm cho mọi người ngã ngửa, vũ khí trong tay bay đi khắp nơi như lá khô, muốn thu hồi lại phải mất nhiều thời gian. Thi Thặt cho dịu cơn gió, quân tướng Thi La lóp ngóp dậy, ngơ ngác, như trong mơ. Tay không, tìm vũ khí chẳng thấy đâu cả, những tướng lính trung thành hăng hái nhất của Thi La cũng cảm thấy nhụt chí, cùng nhau xin chúa chủ rút quân về nước. Nhưng Thi la một mực không nghe, sai Khun Bon – tướng tài nhất trong quân đội chinh chiến, đã đánh là thắng, không bao giờ thua. Khun Bon hoá phép vặt lá cây hoá thành chiến binh sung trận. Đoàn quân đông hàng mấy trăm vạn, tầng tầng lớp lớp, rầm rập tiến vào đè bẹp thành. Thi Thặt hoá phép thành cơn cuồng phong thổi vào đoàn quân, bỗng chốc đoàn quân liền biến thành lá khô, bay rào rào theo gió đi xa.
Khun Bon chết đứng! há hốc mồm chỉ biết nhìn theo. Nghĩ hết cách thấy không đánh nổi, Khun Bon bẩm lên Thi La! Chúa tức giận khiển trách: Ngươi chỉ là tướng vô dụng. Khun Bon uất ức, buồn bã, nản chí. Biết trước rằng, thế nào trận đánh cũng thua, nên Khun Bon chỉ ngồi xem Chúa ra trận.
Thi La đích thân ra trận thử một phen! Chúa hoá phép làm cho các sông ngòi ở trên đất Chăm Pa sinh ra nhiều rắn rết, thuồng luồng bò lổm ngổm tìm ăn thịt người. Kun quan, dân mường sợ hãi, nhà nhà cài then phố xá vắng tanh, bản mường không tiếng người.
Thi Thặt liền phù phép cho mọc ra hai mặt trời chiếu sáng trái đất nóng như rang, vạn vật phải tìm nơi trú ẩn, trăn, rắn, rết thuồng luồng không chịu được giẫy giụa chết phơi thây.
Thi La lại hoá phép thành hàng triệu con rết to chui ở dưới đất lên bò đi tìm cắn người.Thi Thặt lại cho biến thành hàng triệu con gà chân cao mỏ rộng, chạy nhanh để tìm ăn rết. Trong chốc lát rết bị gà mổ ăn hết sạch.
Thi La thua, bầy keo khác cho chín voi gộp lại thành một. Trên lưng mỗi con mang mấy chục tượng sỹ tạo thành những đoàn tượng chiến khổng lồ cho xông vào hòng dẫm nát cửa thành Chăm Pa .
Thi Thặt hoá phép thành lưới giăng như mạng nhện kiếm mồi, đặt bao quanh ngoài thành chờ đợi. Voi khổng lồ tiến vào bị bắt sống, Thi La lại hoá phép để cởi trói cho voi nhưng cởi được lớp ngoài thì lớp trong giữ lại, càng cởi càng bị vướng. Thi La thương sót nhìn đoàn voi chiến bị bắt, tinh thần suy sụp vì bị thua.
Một Chúa đất có tài, khét tiếng đã chinh chiến hàng mấy chục năm chưa bị thua lần nào, nay lại bị thua Thi Thặt nhục nhã ê trề, để tránh miệng thế gian chê cười Thi La tự vẫn. Thi Thặt thống nhất được các mường trần gian. Từ đó nhân dân các mường yên hàn, ấm no.

Phìa Pha Cun lâu năm trị vì đất nước Chiềng Khoang, quân quan yên ở, dân mường ấm no, lúa gạo đầy kho, trâu bò chật bãi, vải vóc, mắm muối đầy chợ búa. Chúa sống trong  cảnh nhung lụa, có nhiều thê thiếp với hàng trăm gái hầu. Tuổi đã cao nhưng Pha Cun không có con nối dõi. Nên ngày ngày thắp hương khấn phật cầu trời ban cho.

Then Bun thấy Pha Cun nhân nghĩa biết chăm lo cho dân ấm, mường yên, bèn sai bà mụ đúc hồn đầu thai. Bà Cun sinh ra được con trai đầu lòng, đặt tên là Pha Cang. Đến tuổi kén chọn bạn đời, gái trong mường như hoa mùa xuân, Pha Cang chẳng ưng ai. Nghe tin công chúa mường láng giềng Chiềng Luông có sắc đẹp tuyệt trần, Pha Cang bèn viết thư ngỏ ý trao tình rồi sai người truyền đến cho công chúa. Nhận được thư, nàng phấn khởi mong ngày được gặp chàng. Nàng viết thư trả lời tỏ lòng ưng thuận. Từ đó nàng và chàng mường tượng đến nhau đêm ngày.

Cho đến một ngày Pha Cun băng hà, giao mường cho Pha Cang cai quản. Buồn vì mất cha nhưng lòng lại nhớ người bạn phương xa, lòng dạ Pha Cang bồn chồn không yên.

Nàng công chúa Chiềng Luông sai người đưa thư đến cho chàng Pha Cang. Trong thư viết nàng mong ước sớm được gặp chàng. Tuy hai người chưa gặp mặt nhưng lời ước hẹn sắt son đã được ghi tạc trong lòng. Trong thư nàng viết: Nhớ chàng nhiều em gửi tặng chiếc túi, chiếc khăn. Thắt chặt hình bóng sóng đôi chí tình. Mỗi khi đi, đứng, nằm, ngồi, lúc vui buồn đều có bóng hình em bên cạnh.

Pha Cang nhận được thư nàng,  chàng bồi hồi, đứng ngồi không yên. Chỉ ước có đôi cánh bay nhanh đến với nàng. Nhưng tang cha còn dở, xin hãy đợi chờ thêm ít thời gian. Anh gửi nàng chiếc nhẫn ngọc làm vật đính ước và dặn nàng hãy yên tâm chờ đợi đến ngày sánh đôi. Xem thư nàng thấy dạo rực trong lòng, mong sao chóng đến ngày được áp má, chung chăn cùng chàng.

Giữa lúc dân Chiềng Khoang đang để tang chủ mường, Chúa Chiềng Luông đem quân sang đánh bất ngờ. Quân dân Chiềng Khoang đang quen cảnh thanh bình cùng với đang bận lo tang chúa, khi nghe tin có giặc đến đã hoang mang cao độ. Quân Chiềng Luông binh cường, tướng giỏi, quân Pha Cang bị động chiến đấu yếu ớt. Chỉ trong vài ngày quân Chiềng Luông đã đánh vào đến kinh thành. Nhân dân chạy tán loạn, ông chú và người cận thần giục Pha Cang lên voi chạy trốn. Quân giặc đuổi theo sát sau lưng, đến bước đường cùng ông chú giục Pha Cang cởi áo xuống voi thật nhanh. Ông chú mặc áo Chúa ngồi lên lưng voi để chết thay cho cháu. Pha Cang cùng cận thần bị bắt làm tù binh. Quân giặc đinh ninh rằng người bị chém trên lưng voi chính là lãnh chúa Pha Cang. Tướng giặc hí hửng dâng đầu Pha Cang lên chúa thượng Chiềng Luông.

Chiếm được đất Chiềng Khoang lãnh chúa Chiềng Luông mở hội khao quân ăn mừng chiến thắng. Nghe tin Pha Cang bị chém đầu, mất người yêu, công chúa âu sầu thương khóc. Nàng xin cha mổ hai mươi con trâu để tiễn đưa vong hồn Pha Cang lên niết bàn yên nghỉ. Chúa Chiềng Luông không muốn làm trái ý con, nên đã làm cho con được toại nguyện. Đám tang được tiến hành theo nghi lễ lãnh chúa, chủ mường.

Người yêu chưa nhìn thấy mặt đã bị cha giết, nàng buồn bã, biếng ăn, kém ngủ gầy gò, xanh xao. Bà mẹ lo lắng, luôn ở bên cạnh động viên. Nàng muốn thấy mặt hai người bảo vệ Pha Cang, quân lính giải hai tù binh đến đến. Thoạt nhìn thấy Pha Cang, một thanh niên khôi ngô, nàng đã có cảm tình ngay từ đầu.

Nàng xin cha cho hai tù nhân bảo vệ Pha Cang về làm phục dịch cho nàng. Hai người tù Chiềng Khoang được nàng hết lòng quan tâm, coi như anh em trong nhà. Thấy vậy, mẹ nàng nhắc nhở con: Bọn chúng là người đầy tớ, con phải đối xử đúng nề nếp gia phong lãnh chúa, nếu không sẽ có tai tiếng ảnh hưởng đến thanh danh của gia tộc. Được cha mẹ quan tâm động viên, nàng ngày càng vợi bớt nỗi buồn, má hồng trở lại, nói cười duyên dáng như xưa.

Pha Cang quá đau khổ nên sinh ốm. Bệnh mỗi ngày một tăng, nằm liệt giường, bỏ ăn, bỏ uống, ngày chẳng nói năng nửa lời. Người hầu Pha Cang lo sợ trộm thưa với công chúa: Cháu tôi bị ốm nặng, nếu để chết trong nhà sợ có tội, xin nàng được đưa cháu ra ở góc vườn bên cạnh.

Nàng đồng ý, người hầu Pha Cang dựng lều che mưa gió đưa chàng ra khỏi nhà to. Pha Cang ốm ngày càng nặng ruồi bâu mép cũng không biết đường mà đuổi. Sợ Pha Cang chết, người hầu mổ gà làm lễ giao của cải, túi khăn cho chàng. Mồm lẩm bẩm nói: Đây là quà tặng của công chúa Mường Luông trước đây đã đính ước cùng chàng kết duyên, nếu phải bỏ cõi trần lên thiên đường nhớ lấy mang theo. Chủ tớ ta sống như hình với bòng. Nếu chàng ra đi thì bỏ tớ sống sao được, vì nợ nước, thù nhà hãy gắng sức phục hồi trở lại…

Cũng lúc đó, công chúa cho người đi dò xem tình hình người ốm. Thấy mâm cúng có túi khăn của nàng gửi Pha Cang thưở trước và nghe tiếng lẩm bẩm của người hầu, nữ tì trở về thưa với nàng những điều mắt thấy, tai nghe. Công chúa ngạc nhiên, trái tim đập rộn rã, thổ thức. Bắt tì nữ đi mượn những thứ đó về xem.  Đúng là kỷ vật nàng gửi cho chàng trước đây, nàng phấn khởi đoán người ốm chính là Pha Cang, người chồng chưa cưới của mình. Nàng gọi các nữ hầu về, dặn phải giữ kín việc này, nếu không chàng sẽ bị bắt chém đầu ngay tức khắc.

Công chúa cho người đem áo chàng đi xem bói. Thầy bói phán rằng chàng đã quá khổ sở và lo sợ nên hồn bay phách lạc, nếu mổ trâu cúng gọi hồn về sẽ khỏi.

Nàng cho gọi người giả danh là chú chàng đến bảo: Ta sẽ mổ trâu làm vía cho chàng, người thấy thế nào? Mặt tái, run sợ người hầu Pha Cang van xin nàng đừng! nếu chúa biết sẽ giết chết cả lũ. Nếu không may cứ để chàng chết cho thanh thản. Nàng nói: chẳng sợ ta sẽ cho người cúng nơi kín đáo.

Cúng được ít lâu Pha Cang hồi phục, bà chủ bắt hai người đi làm cỏ vườn hoa. Pha Cang vừa ốm dậy lại không quen cầm cuốc nên tay phồng chảy máu, chàng đau tay nên cuốc được vài nhát lại dừng .

Bà chủ mắng Pha Cang tậm tệ, người giả chú bỏ cuốc quỳ trước mặt bà xin tha tội, rằng cháu nó vẫn chưa khoẻ.

Công chúa thương chàng xin mẹ đừng mắng cho họ tự làm rồi khắc xong. Bà nói: Ta xem thằng này dáng con nhà quý phái không quen lao động: Con phải theo dõi cai quản chúng cho tốt, nếu không mẹ sợ lại nuôi ong tay áo. Nàng ôn tồn nói với mẹ con khắc có cách dạy bảo chúng đến nơi đến chốn, con luôn xác định chúng là đầy tớ !

Tưởng nàng nói thật lòng nên bà yên tâm dạo chơi chỗ khác. Tiết trời xuân ấm áp, hoa nở khắp núi rừng, voi Pha Cang nhớ chủ nên đã giết chết nhiều quân quan trong mường Chiềng Luông rồi chạy vào rừng.

Đến mùa lúa chín đầy đồng, dân làng khắp mường thi nhau gặt hái, lúa thu về mẩy hạt phơi khô. Chúa Chiềng Luông cho mổ chín trâu cúng trời, mời toàn dân ăn mừng mùa màng bội thu, mâm cơm được bày giữa cánh đồng. Kun quan dân làng già trẻ gái trai chải tóc mượt ăn mặc diện kéo nhau ra đồng, người đông như kiến cười nói như chim chào mào ăn quả si, trong rừng thẳm.

Mọi người vào mâm, nâng chén nói những lời chúc tụng nhau về những điều tốt đẹp. Nơi ăn chậm mới uống được ba chầu, nơi nhậu nhanh mới uống được bốn chén. Bỗng voi từ đâu xông thẳng vào dày xéo đám đông. Dân mường chạy tán loạn người chết như rạ xác la liệt còn hơn những trận ác chiến. Trong chốc lát cuộc ăn mừng, vui chơi của toàn mường trở thành nơi tang tóc đau thương.

Mất quá nhiều tướng tài, quan giỏi, chúa Chiềng Luông bực tức ra lời kêu gọi toàn dân. Nếu ai bắt được, giết được voi dữ trừ hoạ cho đất Chiềng Luông chúa sẽ phong cho làm tướng và gả nàng công chúa cho làm vợ. Ai cũng muốn giàu có, quyền cao chức trọng, kun quan dân mường ngày đêm lo nghĩ cách diệt voi.

Lạ thay voi to khoẻ chạy như bay, da dầy bắn không vào, ai mưu hại voi để được ban thưởng, thì voi lập tức đến nhà giết chết. Những quan tham trong mường bị giết hại gần hết. Chúa lo sợ, ra lệnh đóng kín cổng thành.

Người chết không ai chôn cất, sản xuất đình đốn, đồng ruộng bỏ hoang. Chúa Chiềng Luông hết đường suy nghĩ, không trận mạc mà đất nước suy tàn nghiêng ngả. Phải hết mấy chục năm củng cố và xây dựng mới có thể khôi phục được như ban đầu.Chúa hối hận vì đã giết Pha Cang cướp mường Chiềng Khoang, nay vong linh chàng trả thù làm cho mình điêu đứng.

Kun quan dân mường Chiềng Khoang coi như đã bó tay đầu hàng, mặc cho voi ngang nhiên trên các đường phố giết hại quan trường. Ngồi buồn Chúa sực nhớ hai người tù Chiềng Khoang, một tia hy vọng lóe lên, ông sai người đi gọi ngay tức thì. Công chúa thấy vậy sợ hãi, lo có việc bất trắc xảy ra. Hai chủ tớ đi theo người sai vào cung hãi hùng bước thấp bước cao.

Chúa bảo: voi Pha Cang phát điên quật chết nhiều kun quan tướng giỏi, dân mường náo loạn, quân quan chạy trốn, đồng ruộng không ai cày cấy, đường cái không ai qua lại. Ta đã tìm hết cách chẳng diệt được voi, nay chỉ còn hy vọng ở chúng bay. Nếu bắt được voi sẽ được làm phò mã và cho cả con voi dữ. Nếu chúng bay không bắt được voi dữ đó thì phải chết, nay cho chúng bay về chuẩn bị một ngày.

Thấy hai người trở về công chúa hỏi có việc gì, Pha Cang kể hết ý chúa cho nàng nghe. Nàng lo thay chàng vì cha giao cho một việc nguy hiểm mà cả mường không ai làm được.

Pha Cang xin nàng cứ yên tâm! Hãy giúp tìm chầu cau, bồ kết và chậu nước vo gạo nếp. Nàng sai người đi chuẩn bị cho chàng, Pha Cang cho người hầu đem chậu nước vo gạo và mấy thứ ra đầu sông tắm gội, ăn mặc tươm tất.

Trở về nhà công chúa nhìn chàng say đắm. Chàng cho người hầu bưng đĩa chầu cau đi thẳng tới nơi voi ở. Pha Cang huýt sáo! Voi nghe thấy tiếng chủ chạy đến, Pha Cang cùng người hầu ung dung cưỡi voi về. Voi vào mường, kun quan và dân mường thán phục. Voi bước vào cửa thành, chúa Chiềng Luông sợ quá lăn đùng ra chết.

Pha Cang lên làm Chúa, mường Chiềng Khoang, Chiềng Luông lại trở về thành một dải thái bình.

 

Thi Thôn là truyện thơ của dân tộc Thái, phỏng tác theo cốt truyện của người Chăm, tác phẩm dài hơn một nghìn câu.

Phìa mường Chăm Pa chỉ sinh được một quý tử, đặt tên là Thi Thôn. Chàng lớn lên trong cảnh thanh bình, bốn phương phẳng lặng, dân mường ấm no. Về già Phìa giao mọi quyền cho con nối nghiệp. Thi Thôn làm chúa đất Chăm Pa khi vẫn chưa có vợ.

Nai Pan, người thợ săn hàng ngày đeo cung tên vào rừng tìm thú. Vào một buổi chiều, khi đang ngồi dưới bóng cây, Nai Pan thấy bóng hình các nàng tiên bay xuống trần gian.

Nai Pan quyết đi theo hướng tìm nơi các nàng sà xuống, phải mất lâu ngày mới thấy một cái hồ to, nước trong xanh, có bến tắm vẫn còn lưu dấu vết chân người, xung quanh hương hoa thơm ngát.

Nai Pan một mình với con dao, cái nỏ ngồi gốc cây ven hồ rình xem. Hết ngày bóng lặn vào đêm, hết đêm rạng sáng lại ngày, chờ đến bảy ngày thì thấy bảy nàng tiên từ trên trời bay xuống. Người thợ săn đưa mắt dõi theo. Chúng tháo cánh, lột bỏ áo váy, để lộ rõ thân hình, má đào, lưng eo, ngực căng tròn, da nõn nà, toàn thân tạo nên những đường công tuyệt mĩ. Nai Pan say sưa ngắm nhìn, tưởng như trong giấc chiêm bao.

Bảy nàng tiên nhảy xuống hồ, tung tăng bơi lội thoả thích. Khi mặt trời sắp lặn, các nàng tiên vận gọn áo váy, chắp cánh bay lên mường trời. Người thợ săn ngẩn người luyến tiếc phút giây tuyệt vời.

Nai Pa ước mơ làm thế nào lấy được một nàng để dâng lên chủ mường làm vợ. Suy đi tính lại chỉ có Thầy Thiên mới có thể giúp được việc này. Nai Pan băng ngàn vượt núi tìm đến ranh giới giữa đất người và ma, nơi Thầy Thiên ở.

Nai Pan trình với Thầy Thiên về ước muốn của mình và xin thầy bày kế giúp.

Theo lời mách bảo của Thầy, Nai Pan quay về, đứng trên bờ giương cung bắn xuống đáy hồ. Long Vương liền sai người lên cạn xem sao.

Nai Pan lại trình bày lại ý muốn của mình và xin Long Vương giúp đỡ. Long Vương hoá sợi tơ vàng thành lưới vô hình ngàn mắt đem cho Nai Pan, rồi bảo: người muốn lấy ai thì ném sợi chỉ này vào người đó. Lấy được rồi, ngươi thả sợi chỉ xuống hồ.

Nhận được của báu Long Vương, Nai Pan tìm bụi nấp bên cạnh bến tắm. Nhiều ngày sau, đến một buổi chiều êm ả, bảy nàng tiên lại hạ cánh xuống bến tắm. Nai Pan hồi hộp ngắm xem từng nàng, người nào cũng đẹp cũng xinh, nhìn kỹ thì thấy có một nàng trội hơn. Các nàng xuống tắm như thường lệ, mải mê bơi lội nô đùa chẳng hề để ý đến ai đang rình mò.

Khi nàng đẹp nhất tách ra khỏi đàn, Nai Pan ném sợi dây chỉ lưới thần bắt lấy. Nàng giãy giụa kêu khóc, các nàng khác sợ hãi chắp cánh bay xa. Bỏ lại nàng Mô-nô-hoa con gái út của Then.

Nai Pan ôn tồn khuyên bảo nàng: Đừng có sợ và buồn như thế, tôi sẽ dâng nàng lên cho Thi Thôn chủ mường, nàng sẽ được sống trong cung đình tráng lệ.

Không làm khác được, nàng lê từng bước chân đi theo Nai Pan, mất nhiều ngày mới đến kinh thành Chăm Pa.

Nai Pan dâng Mô-nô-hoa lên Thi Thôn chủ mường. Được nàng ngài vui mừng khôn xiết, nàng gặp Thi Thôn cũng cảm thấy yên tâm và thỏa lòng.

Thi Thôn cho mở tiệc chiêu đãi. Phìa vãi rượu cảm ơn Long Vương và các vị thánh thần đã giúp đỡ để có được nàng Mô-nô-hoa xinh đẹp.

Nhân dân Chăm Pa tự hào phấn khởi bởi chúa đất lấy được nàng tiên. Đôi cánh Mô-nô-hoa được Thi Thôn đem cất trong kho thóc, chỉ để bà mẹ biết cùng. Nàng sống mẫu mực được bà mẹ chồng hoàng gia quý mến, vợ chồng chung sống thanh bình nhiều năm.

Nhưng, đất nước Chăm Pa có giặc đến cướp phá, nhiều lần cho tướng tài binh giỏi đi dẹp không yên. Tướng gặc có nhiều mưu kỳ phép lạ, buộc Thi Thôn phải đích thân đi dẹp.

Nàng Mô-nô-hoa cầu cho chàng ra trận chiến thắng, bình yên trở về, nàng cài một bông hoa lên túi áo ngực chồng và nói, nếu thấy hoa héo anh hãy vội quay về.

Hành quân nhiều ngày mới tới nơi giặc đóng Thi Thôn có tướng hùng quân mạnh đánh trận nào thắng trận đó. Chỉ trong một tháng đã quét sach lũ giặc hung tàn ra khỏi bờ cõi. Mẹ già lâu ngày vắng tin con sợ hãi lo âu cho người đi mời thầy đến bói xem sao?

Những người ghen ghét Mô-nô-hoa bỏ tiền ra mua chuộc thầy bói, mưu giết hại nàng khi chồng đi vắng. Thầy đến xem quẻ phán rằng đất nước đang loạn lạc là do chủ mường lấy vợ ma, giết nàng đi tự khắc yên ổn.

Mẹ Thi Thôn thấy nàng Mô-nô-hoa có tấm lòng thật thà là người con hiếu thảo. Bà đem đôi cánh cất giấu từ trước cho nàng và bảo hãy trốn nhanh. Mô-nô-hoa quỳ lạy tạ ơn bà và dặn lại, nếu Thi Thôn về mẹ nói hộ đừng đuổi theo nàng vì đường lên trời rất nguy hiểm, người trần không qua được.

Nàng chắp cánh nối đuôi bay thử trong nhà, thấy ổn. Đoàn người cầm giáo mác kéo đến vây quanh nhà định giết nàng, nàng phải bay chui qua đầu hồi, lượn một vòng quanh mường Chăm Pa rồi bay vút lên trời xanh, mọi người chỉ biết nhìn theo bóng nàng Mô-nô-hoa. Đến biên giới nghỉ lại gặp Thầy Thiên, nàng gửi lại Thi Thôn chiếc nhẫn cưới nhờ thầy nói dùm và ngăn đừng cho chàng đuổi theo vì đường đi cách xa và nguy hiểm. Rồi nàng Mô-nô-hoa chào từ biệt thầy bay lên trời.

Thi Thôn chiến thắng, đang thu quân bỗng hoa cài trên ngực áo bị héo. Phìa đoán ngay chắc ở nhà có việc chẳng lành liền rút quân về nhà ngay, nhưng đến nhà không còn gặp nàng Mô-nô-hoa nữa, Phìa buồn rầu ủ rũ. Sau khi nghe mẹ kể lại sự tình, Thi Thôn bực tức quyết tâm đuổi theo nàng đến cùng.

Ngót một tháng mải miết mới đến nơi ở của Thầy Thiên. Thi Thôn tưởng sẽ gặp nàng ở đây, nhưng nàng nghỉ một tí rồi đã bay lên trời.

Thầy Thiên trao lại chiếc nhẫn và truyền lại những lời khuyên của nàng choThi Thôn. Đường lên trời lắm quãng nguy hiểm người trần gian chưa ai lên được mường Then bao giờ. Thầy Thiên hết lời can ngăn, nhưng Thi Thôn một mực không nghe quyết đuổi theo bằng được, dù có chết giữa đường cũng cam chịu.

Thi Thôn lưng đeo gươm báu, ống tên, tay cầm cung thánh bước vào mường ma. Tới khu rừng rậm, Phìa dừng chân ngắm hướng, lũ ma quỷ nhìn thấy ào ào kéo nhau đến đen ngòm trên cây. Thi Thôn gương cung bắn, ma khiếp sợ bay đi tan tác. Lên đường đi tiếp lại gặp bầy muỗi, dĩn con nào cũng to bằng con gà mái, con nào cũng chen vào chực cắn, xé ăn. Phìa hoá phép thành ngọn lửa cháy bập bùng xung quanh. Muỗi, dĩn chết la liệt, con sống sót cao chạy xa bay. Thoát chỗ này lại đến rừng mây vàng, gai nhọn, mênh mông chắn lối. Phìa giương cung bắn! Mây rẽ lối rì rào, gió quét lá xào xạc, Phìa nâng nhẹ bước chân qua. Triền miên đi hết hai mươi ngày mới thoát khỏi rừng gai.

Đến bãi lầy đỉa, vắt. Con đỉa to bằng giát, con vắt bằng cột nhà, thân dài hai ba sải. Thấy hơi người kéo nhau bò đến. Thi Thôn rút gương thiêng ra ra chém, hết một ngày mỏi tay không xuể, liền hoá phép lửa cháy lan quanh mình. Vắt đỉa sợ chạy trốn chen nhau chúi xuống đáy bùn…

Rồi phải đi tới một vùng ngọn lửa cao qua bao đời chẳng bao giờ nào tắt. Thú không cánh chẳng con nào qua được. Phìa giương cung bắn vọt tên qua, lửa tắt ngấm mở đường cho đi, Thi Thôn đi qua chỗ nào lửa cháy trở lại. Đi hai mươi ngày liền mới qua được vùng lửa cháy.

Lại đến chỗ hai núi đá đâm nhau ầm ầm chắn lối. Hai trái núi như hai hàm răng nhai lại đôm đốp. Đây là cửa ải ngăn ma quỷ đi vào mường Then. Phìa lấy cung ra bắn hai cặp vách vẫn không ngừng hoạt động. Thất vọng tưởng bỏ xác nơi đây vì hết đường, vô phương. Đêm ngủ có thần mách bảo: Ngươi hãy đi tìm những quả chua ném vào cho núi “ghê răng”!

Vất vả nhiều ngày Thi Thôn lấy được ba mươi ngàn quả bòng, ba ngàn gánh quả bưởi, ngày đêm liên tiếp ném vào miệng đá, đá “ghê răng” há hốc miệng. Phìa vọt qua như tên đá sập xuống nghiến đứt vạt áo rơi xuống biến thành con bướm ở mường trần gian.

Qua chặng đường nguy này Phìa lại tới cánh đồng mường Then bát ngát. Nơi này nàng Mô-nô-hoa đã đi qua ngày trước. Cây bên đường đang thời nở hoa, lá mơn mởn hương thơm ngào ngạt. Thi Thôn đi qua không biết, thấy hoa lạ ngắt lấy một bông cài lên túi. Hoa mường Then hoa lạ, một bông lìa cây, một bông khác lại mọc, đoá rơi rụng, đoá nở thêm đầy cành.

Đến vùng đất trống hoang vu gặp nhiều cô gái đón đường hỏi han, nhiều nàng gợi ý xin theo. Thi Thôn nói ta có việc đi lên mường Chom Chăng, các nàng hãy tránh ta đi. Các cô gái trẻ chỉ còn biết nhìn theo sau chàng luyến tiếc.

Đến một mường toàn đàn bà, chẳng có đàn ông. Thấy lạ Thi Thôn hỏi: các ngươi vì sao phải sống một mường toàn nữ? Các bà trả lời: dưới trần gian chúng em  ngoại tình, nên bị Then phạt, cả cuộc đời không được tiếp xúc với nam, giờ thèm nam quá.

Đến một mường đàn bà khác thấy một người có hai đầu chung cổ vì Then phạt do dấu chồng giết con.

Đến mường Tiêng Lanh thấy mọi người một cổ hai gông do tội giết vợ cướp chồng nên Then kết thành hai tội.

Đến mường toàn đàn bà mắt đứng bởi tội đay nghiến, chửi rủa, khạc, nhổ vào mặt chồng nên Trời phạt.

Đến mường mọi người đứng đỡ làm cầu cho người qua vì chồng chết chưa mãn tang đã đi tằng tịu với người tình nên Then bắt phạt.

Lên mường trời biết nhiều cái lạ, ai sống ở trần gian làm ác, khi trở về mường trời Then bắt phạt không tha.

Qua các vùng giam giữ tội tù, Thi Thôn đến Sông Chang, sông rộng mênh mông, đứng trên bờ nhìn thấy trời nước liền nhau, nước sông nóng bỏng sôi sùng sục. Sực nhớ tới lời Thầy Thiên căn dặn, Thi Thôn rút gươm nhúng xuống sông, lưỡi gươm cụt lủn. Sợ hãi và lo ngại, chỉ còn hy vọng bắn cung xuống dưới đáy. Long Vương thấy động cho người lên hỏi và được Thi Thôn van lạy, thưa trình cặn kẽ. Rủ lòng thương Long Vương cho thuồng luồng nổi lên, nối đuôi nhau làm cầu cho Thi Thôn qua sông. Tạ ơn thuồng luồng, Thi Thôn bước đi nhẹ nhàng và vượt qua chặng đường nguy hiểm.

Đến rặng núi đá sừng sững, vách đứng phẳng lỳ, cả ma  quỷ cũng chẳng lọt vào được mường Then. Thi Thôn phải giam chân ở đây nhiều ngày. Đang trong lúc tuyệt vọng bỗng có bầy quạ sà xuống và nói với nhau: Sáng mai ta sẽ đi kiếm ăn ở mường Chom Lạt, nàng Mô-nô-hoa ở trần gian mới về, Then mổ trâu bò làm vía gội rửa bụi trần gian cho nàng, ta tới đấy chắc được bữa no nê.

Nghe xong Thi Thôn phấn chấn biến thành con dĩn vàn bay lên, chui vào đậu gốc cánh con to khoẻ nhất đàn. Sáng hôm sau bày quạ bay đi, con mang theo Thi Thôn bay nặng nề chậm chạp. Đến bến sông mường Chom Lạt bầy quạ sà xuống. Thấy Thi Thôn chui từ cánh mình ra quạ luyến tiếc nói: Biết trước sẽ được một bữa ăn ngon. Từ đó các loại chim thường hay rỉa cánh.

Thi Thôn dừng lại tại bến nước mường Chom Lạt. Một đám nữ gánh nước đi qua, Thi Thôn hỏi: Các nàng gánh nước làm gì nhiều thế? Bọn chúng trả lời: gánh nước về tắm rửa cho nàng Mô-nô-hoa ở trần gian mới về.

Thi Thôn tìm cách lừa bọn chúng xin uống nước để bỏ chiếc nhẫn vào ống nước. Khi nàng Mô-nô-hoa vào tắm, nhẫn chạy vào ngón tay thon thường đeo. Nàng giật mình sửng sốt: Lẽ nào Thi Thôn – chồng yêu thương của ta lại lên được tới đây.

Nàng hỏi các cô hầu đi gánh nước có gặp ai không? đám nữ đáp: gặp một chàng trai tuấn tú khôi ngô đến xin uống nước. Nàng sai người đi hỏi han cho kỹ. Đích thị là Thi Thôn chúa đất Chăm Pa, đuổi theo nàng lên mường Then Chom Lạt.

Nàng Mô-nô-hoa muốn chạy nhanh ra địu lấy chồng về ngay, nhưng cha nàng rất khó tính, khắt khe. Nảng rụt rè mang chuyện trình thưa với cha và xin cha cho phép được đón chàng về.

Then cho phép nàng cùng đi với mẹ đón chàng về, nhưng phải ngậm miệng lại không được nói một câu. Nàng Mô-nô-hoa nhìn thấy Thi Thôn trong tim rộn rã, nồng nàn yêu thương chỉ muốn lao ra ôm hôn chàng cho thoả lòng mong nhớ. Nhưng lời cha dặn đã thành hàng rào thép chặn đứng trái tim nàng.

Nàng nhìn chàng nước mắt rưng rưng. Mẹ Mô-nô-hoa thử tài con rể: Tảng đá hình cầu to bằng cái nhà kia! Nếu chàng nhấc lên được qua đầu thì sẽ công nhận là rể út của Then Chom Lạt. Thi Thôn lấy dao khoét thành lỗ xỏ ngón tay trỏ rồi nâng bổng lên quá đầu.

Thấy chàng xuất chúng bà thử tài lần hai. Những rặng núi vướng mắt kia kìa ! Ta muốn san bằng thành ruộng nuôi dân. Thi Thôn phù phép, trời tối sầm lại, sấm sét ầm ầm đất đá lở rơi như trời đất sắp sụp đổ. Trong chốc lát những rặng núi cao đã san bằng thành ruộng.

Bà đón chàng rể lên nhà, Thi Thôn vái lạy Then chủ mường Chom Lạt. Then cho mổ trâu bò thết đãi chàng rể người trần gian. Nhưng vẫn tiếp tục thử thách: Nhà Then rộng ngàn buồng mỗi buồng có một nàng, mỗi nàng để thò ngón tay út ra ngoài. Nếu chàng chọn đúng nàng Mô-nô-hoa thì sẽ công nhận nên vợ nên chồng, bằng không thì phải chết.

Nhờ sự giúp đỡ của mèo, Thi Thôn nắm lấy được ngón tay của nàng Mô-nô-hoa trước sự ngạc nhiên của mọi người. Then chưa chịu, lại đưa ra thử thách mới. Vườn dừa sai trĩu quả chàng hãy làm cho rụng hết rồi đưa dừa trở lại nguyên buồng như cũ. Thi Thôn niệm thần chú nhờ các thần thánh thực hiện được như yêu cầu của Then.

Rồi Then tiếp tục ra những thử thách mới như: buộc ba ngàn trâu cho đúng cột, phát và tra nương rộng khắp chín bản trong một ngày, thu lại hạt giống đã gieo… Chàng đã phải nghĩ nát óc, nhờ nhiều vị thần hay con thú giúp đỡ mới vượt qua được.

Cuối cùng Then mới chịu gả nàng Mô-nô-hoa cho Thi Thôn làm vợ.

Nhưng Then thấy chàng rể tài ba hơn người, tìm cách trừ khử để tránh hiểm hoạ về sau. Một hôm, Then cho người mời vợ chồng con rể du ngoạn trên hồ. Nàng Mô-nô-hoa bàn với chàng tìm cách đối phó. Mang theo nhiều chuối, dành một quả cắm dao găm hai lưỡi. Thuyền cha to rộng, mái rồng, người đông. Vợ chồng nàng được thuyền trần, bé nhỏ, chỉ có hai người chèo. Đến giữa hồ không biết bao thuồng luồng há miệng chực ăn chàng và nàng. Hai người cùng nhanh tay ném chuối. Con được ăn lặn xuống lẩn đi. Con chưa được ăn chen chúc lao vào. Bỗng đám thuồng luồng dạt ra nhường lối cho một con to nhất lao vào. Ngẩng đầu cao, há hốc miệng định chộp gọn vợ chồng Thi Thôn. Nghe lời nàng, chàng nhanh tay ném chuối cài dao găm vào miệng nó. Thuồng luồng to bị hóc, giãy giụa, nước tung toé, thuyền Then cha bỗng chao đảo rồi chìm nghỉm.

Then  Chom Lạt chết vì con thuồng luồng to nhất chính là Then biến thành hòng tiêu diệt con rể. Tổ chức tang lễ cho cha xong nàng Mô-nô-hoa cùng Thi Thôn trở về Chăm Pa hạ giới. Nhân dân nô nức đón mừng. Chàng và nàng cai quản Chăm Pa thái bình.

Phìa Pha Mệt – lãnh chúa trị vì mường Chăm Pa đang thời hưng thịnh. Đến năm vận hạn Phìa mời thầy giỏi đến xem. Thầy rằng: Đây là tai vạ trời gieo, nếu đi trốn, tính mạng sẽ được bảo toàn, giang sơn, ngôi báu sẽ còn nguyên vẹn.

Pha Mệt cùng vợ với hai đứa con trai lìa bỏ ngai vàng đi trốn chạy hạn. Cuộc hành trình vất vả gian truân đầy thử thách với gia đình lãnh chúa. Phìa đưa vợ con luồn rừng, trèo đèo, lội suối, qua khe, áo ướt đẫm mồ hôi, tóc bù rối, bụi bặm dính đầy cổ, đầy người.

Một hôm dừng chân dưới gốc cây to, hai đứa con nhìn thấy chim mẹ mớn mồi cho con. Nhân lúc chim mẹ bay đi kiếm mồi, chúng liền vội vàng trèo lên trộm bắt chim con.

Trở về tổ, không thấy con, chim mẹ chửi rủa phát ra tiếng người: Hỡi trời phật! gia đình ta ăn ở hiền lành, chẳng có tội tình gì mà con ta bị bắt trộm. Kẻ nào bắt trộm con ta thì gia đình nó sẽ tan tác, cha lìa con, vợ lìa chồng! Pha Mệt nghe thấy vậy vội nhắc con lấy chim non trả về tổ như cũ.

Rồi cả nhà tiếp tục lên đường, Phìa đưa vợ con đi mãi, đi mãi, hái quả, ăn lá non thay bữa. Mệt đâu nghỉ đó, tối chỗ nào ngủ chỗ ấy, màn trời chiếu đất, lấy gốc cây làm nhà trú mưa nắng. Đi hơn mười, đến một buổi chiều, gặp một con sông vắng vẻ, hiu quạnh không bóng người qua lại.

Phìa bảo vợ: Nàng ở với con, ta sẽ đi chặt tre về đóng bè để vượt sông. Do thiếu ăn, sức yếu, dao cùn nên tre chặt về đóng bè được ít, không chuyển tải được cả nhà đi cùng một lúc, Phìa đành chuyển hai đứa con đi trước để lại vợ chờ đi chuyến sau.

Giữa lúc nàng một mình cô đơn, sợ hãi thì có thuyền buôn đi qua. Tên lái buôn gian giảo, xảo quyệt thấy nàng xinh đẹp, đứng một mình trên bờ, như hổ đói gặp cừu non. Lập tức hắn sai người đi bắt lấy nàng.

Nàng giẫy giụa, van xin. Tháo hoa tai, châm cài, dây đeo… để chuộc thân. Bọn côn đồ không nghe. Nàng không cưỡng nổi và bị bắt xuống thuyền. Nàng la, khóc chúng bịt mồm lại, giục thuyền chạy nhanh. Nhớ chồng thương con nàng thoi thóp như cá ngáp cạn há miệng hớp không khí.

Pha Mệt cho con lên bờ căn dặn kỹ lưỡng rồi quay về đón vợ. Tới nơi không còn thấy nàng đâu nữa. Phìa tìm ngược, tìm xuôi, hú to, gọi lớn đều im ắng, lặng ngắt.

Trong khi đó, hai đứa trẻ ở nơi xa lạ, hoang vắng sợ hãi kêu khóc ầm ỹ. Người thợ săn “Nai Pan” đi qua thấy thương đem về nhà.

Không tìm được vợ, Phìa thẫn thờ trở lại với con, nhưng tìm con cũng không thấy, không biết hổ ăn hay người bắt.

Mất vợ, mất con chỉ còn một thân, một mình. Pha Mệt đau khổ, sống dở, chết dở. Từ một người lãnh chúa oai phong bỗng trở thành kẻ ăn mày, cô đơn. Đường sống chết hai ngả liền kề, hiện ra trước mắt. Chết thì nhẹ nhõm nhưng chưa làm tròn trách nhiệm của người trần gian. Sống thì khổ cực trăm bề nhưng biết đâu thời thế xoay vần mai sau lại được tái hồi như xưa.

Pha Mệt quyết sống không thể buông xuôi cuộc đời. Phìa gắng sức, lê từng bước, giữ cho hồn không rời khỏi thân xác, ổn định lại tinh thần tiếp tục trên đường đi trốn hạn. Đi tám ngày cật lực nữa mới tới mường Luông.

Cánh đồng Mường Luông bát ngát, mênh mông. Đường đi thẳng tắp, cau, dừa hai bên. Dòng sông nước chảy lững lờ, long lanh soi bóng nhấp nhô toà nhà. Phố xá trù phú, chợ búa kẻ mua người bán tấp nập, đông vui.

Mường Luông phong cảnh hữu tình, nỗi nhớ nhung vợ, con càng thêm da diết. Pha Mệt tìm đến trú tại một ngôi đền nhỏ, thanh vắng. Cô đơn, hiu quạnh, màn trời chiếu đất, quần áo rách rưới, ngày ngày lang thang đầu đường xó chợ xin làm việc, kiếm ăn.

Xuân qua hạ đến, thấm thoắt đã tám năm trời bơ vơ đất khách quê người, mỗi khi nhớ đến nhà, vợ con ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa.

Chúa mường Luông già yếu băng hà. Hội đồng bô lão cùng nhau bàn bạc chọn người kế vị. Trong hoàng tộc con cháu cũng có, nhưng chẳng có ai có đủ tài đức xứng đáng đảm đương việc mường. Sợ giang sơn xã tắc không yên hàn bền lâu, Hội đồng bô lão thống nhất mời thầy bói chọn người kế vị.

Thầy rằng: Có người lánh nạn tha hương đến đây cư trú đã lâu. Nếu mời người này lên làm chúa thì bản mường sẽ hưng thịnh yên hàn.

Các bô lão hỏi: người ấy hiện ở đâu? hình thể, tư thế, dáng vóc thế nào? Thầy bói nói: Người đó mạnh khoẻ, to cao, vẻ ung dung thư thái, dáng dấp như lãnh chúa.

Hội đồng cho người đi tìm khắp nơi trong mường. Đến ngày thứ bảy mới gặp một người đi trên đường phố ăn mặc rách rưới, nhưng mặt mày tuấn tú khôi ngô, thông hiểu lễ nghĩa, nói năng khiêm nhường. Các bô lão cử người đến gặp thăm dò, Pha Mệt từ chối: Thân hèn sức mọn sợ không đáp ứng được trọng trách được giao. Nài nỉ mãi, Pha Mệt mới nhận lời Hội đồng bô lão.

Chọn ngày lành tháng tốt dân mường đến rước Pha Mệt lên làm chúa thượng mường Luông. Từ một người tha hương, phải xin ăn kiếm sống qua ngày, bỗng trở thành lãnh chúa của một mường rộng lớn. Pha Mệt sống trong cung điện có kẻ hầu người hạ, của cải, châu báu, vàng bạc đầy kho. Nhưng nỗi nhớ nhung vợ con day dứt trong lòng không nguôi.

Tin Pha Mệt được mời làm lãnh chúa mường Luông lan đi khắp nơi. Người thợ săn lấy hai đứa trẻ lạc về nuôi, thấy chúng khôn ngoan, mạnh khoẻ, dễ thương. Nếu có người dạy bảo sau này chắc sẽ làm được việc lớn. Một hôm Nai Pan dâng hai anh em cho Pha Mệt. Xin lãnh chúa giúp đỡ dạy bảo cho nên người.

Thương Nai Pan, Pha Mệt cho hai anh em làm người hầu ở gần để sai bảo. Pha Mệt lên làm chúa thượng, Mường Luông ngày càng hưng thịnh, tàu thuyền chật bến, chợ búa đông nghịt những người, phố xá không ngớt voi, ngựa.

Một hôm, tên lái buôn giàu có, muốn tranh thủ cảm tình của chúa, mang của cải đến mường để ủng hộ việc chung. Chúa vui lòng nhận và sai người mở tiệc thết đãi. Bữa ăn vui mừng kéo đến hoàng hôn. Lái buôn tỏ vẻ sốt ruột không an tâm! Pha Mệt hỏi: ngươi có việc gì không yên?

Lái buôn thưa: ở thuyền còn có vợ và nhiều của cải, sợ có điều bất chắc xảy ra?

Pha Mệt cho gọi hai anh em mà Nai Pan đem đến vào, rồi bảo: chúng bay đi coi thuyền cho lái buôn.

Trăng thanh gió mát, hai anh em đứng trên mạn thuyền tâm sự: người em hỏi anh: Nai Pan có phải họ hàng bà con ta không? Anh trả lời: không phải! Em lại hỏi: Sao vợ chồng Nai Pan lại hết lòng nuôi nấng, chăm sóc cho ta chu đáo thế. Anh nói: Họ thương mình lạc bố mẹ nên thế thôi. Em lại hỏi tiếp: Bố mẹ ta là ai? Có còn sống không? Anh trả lời: Bố ta là Pha Mệt lãnh chúa mường Chăm Pa nổi tiếng. Đến năm vận hạn bố mẹ đem ta tạm lánh đi nơi khác, không may ta lạc bố mẹ trong lúc qua sông. Người thợ săn thương hại đem ta về nuôi; từ đó không biết bố mẹ còn sống hay đã chết.

Bà chủ thuyền nghe thấy, biết đây chính là con mình, chạy ra ôm chầm lấy hai con khóc nức nở. Có người nhìn thấy không rõ đầu đuôi vì sao bà chủ thuyền lại ôm hai người con trai khóc; liền bẩm lên chúa. Pha Mệt tức giận sai lính bắt về chém.

Vợ lái buôn theo gót hai con đến sân rồng. Bà ôm hai con khóc lóc van xin: Mẹ con chúng tôi đi trốn hạn lạc nhau đã hơn chín năm ròng. Nay gặp lại nên ôm nhau khóc, chứ hai con tôi không có tội tình gì tội tình gì!

Quan sai vào bẩm báo, Pha Mệt ra xem, nhận ra người vợ và các con, chạy đến ôm lấy cả ba. Sau gần mười năm lưu lạc mỗi người một ngả, gia đình Pha Mệt mới có ngày được đoàn tụ.

Tên lái buôn có tội bắt cóc, ức hiếp người vợ đã có chồng bị xử trảm. Nai Pan có công giúp đỡ người hoạn nạn được ban thưởng của cải châu báu.

Nặm Rốm là con sông chảy dọc suốt chiều dài cánh đồng Mường Thanh. Tác giả Vương Trung đã mượn con sông làm hình tượng chạy xuyên suốt tác phẩm trường ca “Sóng Nậm Rốm” của mình.

Sông Nặm Rốm đã chứng kiến từ buổi đầu con người đặt chân đến khai thiên lập đia, là một trong những mường quê cha đất tổ lâu đời nổi tiếng nhất của người Thái. Nó đã được đúc rút thành hình tượng văn hoá để ghi nhớ truyền kiếp. Chẳng hạn truyền thuyết: “Từ thời xa xưa đất không có người, sông không có cá. Then trên trời thả quả bầu khổng lồ xuống. Rồi Then phái Khun Bó Dốm cưỡi voi thần trắng xuống đục quả bầu thần cho những giống người, những giống lúa, những giống cá và các thứ giống khác… đựng trong đó ra sinh sống phát triển, làm ăn dựng nên bản nên mường. Bởi thế mới gọi là Mường Then và có hồ Nong Ú Ba như Nong Ú Ba ở Mường trời”.

Mường Then xưa kia về sau biến âm thành Mường Thanh. Khun Bó Dốm là nhân vật có tiếng trong lịch sử. Ông là một thủ lĩnh lừng danh của một thời xa xưa xây dựng vùng đất Mường Thanh phồng vinh, hùng mạnh.

Từ thủa ban đầu xây dựng Mường Then cho đến Mường Thanh – Điện Biên Phủ thì bản mường đã trải qua biết bao thăng trầm. Nhưng rồi, đời tiếp đời không bao giờ chịu bó tay trước thiên tai tàn phá, không bao giờ chịu cúi đầu trước giặc cướp giằng xé nát bản mường, luôn luôn cùng nhau đoàn kết đồng lòng đồng sức bền gan vững trí đánh đuổi giặc cướp, bảo vệ đất nước, xây dựng bản mường ngày càng vững mạnh và phồn vinh. Khắp mảnh đất Mường Thanh đầy những chiến tích xưa nay đấu tranh chống thiên nhiên và đấu tranh giành độc lập.

Khi giặc Pháp đến xâm chiến Việt Nam thì nhân dân Tây Bắc nói chung và nhân dân Mường Thanh nói riêng đã cùng nhân dân cả nước đứng lên đánh đuổi giặc Pháp bảo vệ đất nước trong khi những thủ lĩnh là các tạo phìa đã nhanh chóng đầu hàng giặc Pháp. Dưới chế độ thực dân phong kiến cuộc sống của nhân dân vô cùng gian khổ dưới hai tầng áp bức bóc lột của đế quốc và phong kiến. Chúng bắt bớ, phạt tù hết sức dã man những người yêu nước, đứng lên đấu tranh chống lại chúng. Nhưng rồi những người yêu mường, thương dân vẫn không nguôi trí căm thù luôn tìm cách tổ chức đứng lên đấu tranh giành lại bản mường. Đó là nhân vật điển hình Tam Pong và Phan Tứn. Trong khi họ đang hoạt động bí mật tổ chức để chuẩn bị cướp chính quyền thì cách mạng tháng Tám bùng nổ. Họ chớp thời cơ kịp thời lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành lấy chính quyền. Đội quân khởi nghĩa gia nhập quân cách mạng.

Pháp trở lại Tây Bắc, quân cách mạng phải tạm rút lui vào chiến khu kháng chiến. Trên đường rút lui về chiến khu đơn vị của Phan Tứn bị địch phục kích thiệt hại rất nặng nề. Phan Tứn lạc rừng phải tìm đường trở lại quê làm dân thường.

Tam Pong từ chiến khu trở lại hoạt động bí mật trong địch hậu tại Mường Thanh. Tam Pong đã bắt liên lạc với Phan Tứn. Tinh thần cách mạng của Phan Tứn được nối lại. Phan Tứn tích cực hoạt động bí mật gây dựng tổ chức cơ sở cách mạng. Phan Tứn bị giặc bắt nhốt trong xà lim tại đồn Mường Thanh. Mặc dù bị tra tấn rất dã man, chết đi sống lại bao lần anh vẫn không hề hé răng để lộ bí mật.

Chiến dịch Tây Bắc năm 1952. Trong đoàn quân tiến vào giải phóng Mường Thanh có Tam Pong. Phan Tứn được cứu thoát. Phan Tứn nhập ngũ ngay từ phút xích sắt rời khỏi thân thể.

Năm 1953 Pháp nhảy dù chiếm lòng chảo Mường Thanh xây dựng cứ điểm tập đoàn quân sự lớn. Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến dịch Điện Biên. Tam Pong và Phan Tứn đứng trong hàng quân tiến vào giải phóng Điện Biên. Lúc này Tam Pong là Đại đội trưởng, Phan Tứn trong đơn vị pháo. Bộ đội ta kịp thời vây hãm không để giặc ra khỏi lòng chảo. Bộ đội kéo pháo lên những ngọn núi quanh lòng chảo bắn phủ đầu buộc địch phải nằm ẩn mình trong hầm sâu không dám lên khỏi mặt đất. Khắp mọi miền đất nước dồn sức người, sức của cho chiến dịch. Suốt ngày đêm trên các tuyến đường dân công tải lương không ngưng nghỉ tiếp tế cho tiền tuyến: Quẩy, gánh, thồ ngựa, thồ xe đạp, dùng trâu bò để kéo, ô tô tải chuyên chở nối duôi nhau, nhộn nhịp…

Trận mở màn chiến dịch Điện Biên đánh vào đồn Him Lam, anh hùng Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Thắng trận giòn giã, bộ đội ta tấn công liên tiếp, lần lượt tiêu diệt các cứ điểm của giặc: Đồi Độc lập, Sân bay, Hồng Cúm… Trận chiến gay go nhất, khó khăn và ác liệt nhất là trận đánh đồi A1. Sau khi chiếm lĩnh đồi A1, quân ta tiến đánh hầm tổng chỉ huy, tướng Đờ-cát-tơ-ri buộc phải cúi đầu ra hàng. Điện Biên phủ hoàn toàn giải phóng.

Giặc Pháp dồn dân vào trại tập trung tại bản Nong Nhai. Bị thất thủ chúng cho máy bay ném bom hủy diệt nhân dân trong trại. Phan Tứn đến trại tập trung tìm vợ, con chỉ còn gặp những người thoát chết la khóc thảm thiết tìm thi thể người thân. Phan Tứn tìm khắp nơi mới gặp đứa con gái nhỏ của mình đang thu mình trong lòng người cô ruột. Cô gái cho biết vợ và con trai của anh cùng chồng và hai con trai của cô em gái đã bị vùi dập dưới mưa bơm bão đạn của kẻ thù.

Tin chiến thắng vang dội khắp nơi. Bộ đội và nhân dân mở hội mừng đại thắng. Tiếng súng khai hội vang rừng, vọng núi. Bộ đội duyệt binh hùng dũng như sóng sông cuồn cuộn, tiếng trống chiêng vang vọng núi rừng. Bộ đội và nhân dân vui múa xòe, tung còn, ca hát mừng chiến thắng… Không khí ngày hội tưng bừng, náo nhiệt trong niềm vui khôn xiết.

Hòa bình lập lại, Miền Bắc khẩn trương hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bộ đội trở lại Điện Biên thu dọn bãi chiến trường xây dựng nông trường. Tam Pong nằm trong Ban lãnh đạo Nông trường.

Cánh đồng Mường Thanh xưa nay khan nước, trông chờ vào mùa mưa để có nước tưới tiêu phục vụ sản xuất. Nay bộ đội cùng nhân dân đắp đập làm thủy nông Huổi Phạ, vẫn không đủ nước cung cấp phục vụ sản xuất trên những cánh đồng hai vụ. nhờ có sự phát triển về khoa học kỹ thuật nhà nước đầu tư tiến hành xây dựng đại thủy nông Nậm Rốm. Thong Hung con trai của Tam Pong là kỹ sư thủy lợi tham gia xây dựng thủy nông. Sau khi công trình đại thủy nông hoàn thành, hai tuyến mương lớn dẫn nước suốt dọc hai bên cánh đồng đưa nước tưới tiêu khắp cánh đồng.

Giặc Mỹ phá hoại miền Bắc. Phan Tứn chỉ huy tiểu đoàn pháo cao xạ đến bảo vệ đập thủy nông Nặm Rốm, phối hợp với quân và dân Điện Biên chiến đấu quyết tâm bảo vệ vùng trời Điện Biên, máy bay Mỹ đến đã bị lưới lửa bủa vây không có đường thoát.

Con gái Phan Tứn sống sót sau trận bom giặc Pháp hủy diệt trại tập trung năm xưa nay đã thành cô gái lái máy cày trên cánh đồng Điện Biên. Tên cô là Mứn Đa. Thong Hung và Mứn Đa yêu nhau. Sau khi mặt trận Đông Dương được thành lập, Thong Hung và Mứn Đa tạm chia tay nhau. Mứn Đa ở lại xây dựng hậu phương, Thong Hung gia nhập quân đội Đông Dương tiến ra trận tuyến.

Trường ca “Sóng Nậm Rốm” mang tầm khái quát không gian và thời gian rộng dài về quá trình lịch sử dân tộc không ngừng phấn đấu xây dựng và bảo vệ bản mường ngày càng phát triển vững mạnh. Trọng tâm của tác phẩm phản ánh chiến dịch Điện Biên, tố cáo tội ác của giặc Pháp với bao cảnh đau thương, tang tóc, cảnh tàn phá nhà cửa, bàn làng, giết hại dân lành. Chúng xây dựng hầm hào kiên cố, đầy đủ phương tiện chiến tranh, hàng ngày chúng dùng máy bay dội bom phá đường, cầu nhằm cắt đứt con đường tiếp tế của quân và dân ta vào chiến dịch. Dù bom đạn của chúng tàn phá ác liệt đến đâu cũng không cản nổi bước tiến của quân và dân ta vào chiến dịch. Bộ đội ta chịu khó chịu khổ, anh dũng hy sinh xương máu chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.

Sau khi sạch bóng quân thù mảnh đất lòng chảo Điện Biên được nhanh chóng khôi phục, hồi sinh và xây dựng ngày càng phát triển giàu đẹp.

Khí thế chiến thắng Điện Biên đã được nhân lên thành sức mạnh tinh thần lớn lao của ba nước anh em Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đoàn kết cùng nhau giải phóng toàn cõi Đông Dương thoát khỏi đế quốc xâm lược, đã được tác giả miêu tả ẩn dụ bằng hình tượng sông Nặm Rốm chảy hòa vào Nặm U và Mê-kông.

“Nàng Cống Căm Đanh” cốt truyện xảy ra ở nước Lào, được dân tộc Thái chuyển thể thành truyện thơ. Truyền thuyết “Nàng Cống Căm Đanh” mang tính thần thoại, có độ dài 1098 câu.

Chuyện xảy ra ở hai địa điểm ở hai mường. Đó là Mường Chắc Khịt do vua Xu Vông làm chủ và Mường Viêng Chăn do vua La Xa làm chủ.

Mường Chắc Khịt đang yên đang lành thì có một đôi vợ chồng Quạ Vàng độc ác bay từ trên trời xuống rỉa ăn thịt người, phá tan hết Mường Chắc Khịt. Từ thành luỹ nhà vua, ngai vàng, đến ruộng đồng, vườn cây, rừng rú, chim, muông đều bị tàn phá ngổn ngang, nghi ngút lửa cháy. Quan Thiên văn mường Chắc Khịt nói với vua Xu Vông: Chỉ có nàng Xu Ma, là người có thể cứu được Mường Chắc Khịt, đưa lại cuộc sống yên bình, no ấm cho dân Mường. Các quan triều bàn với vua bằng cách nào cũng phải bảo vệ được nàng Xu Ma, nên phải đóng chiếc trống to cao bằng vàng đỏ và dấu nàng Xu Ma vào đó chờ thời cơ. Chiếc trống đã được tiến hành đóng ngay và đưa trống đặt trong một ngôi chùa lớn trong rừng thẳm.

Rồi cuộc sống của tất cả mọi người từ vua cho tới dân đều bị đôi Quạ Vàng gian ác mổ rỉa ăn thịt. Cả Mường chỉ còn cảnh tiêu điều đổ nát và đâu đâu cũng chỉ thấy xác người và những bộ xương người chồng chất ngổn ngang. Cả Mường Chắc Khịt chỉ còn mỗi nàng Xu Ma sống sót trong chiếc trống vàng đỏ. Nên gọi là “Nàng Cống Căm Đanh” (nghĩa là nàng trống vàng đỏ) là vì thế.

Tại Mường Viêng Chăn sinh đẹp, bước vào mùa xuân, vua La Xa, tổ chức đi săn. Vua La Xa đi theo vết một con nai đen, cứ đi, đi mãi vào rừng sâu rồi lạc các quan quân hộ tống vụ đi săn.

Vua La Xa lạc đến một ngôi chùa lớn vắng vẻ giữa rừng sâu. Với trí tò mò tìm hiểu, vua La Xa đã xuống ngựa vào chùa gõ chiếc trống vàng đỏ và nghe có tiếng nói bên trong chiếc trống, La Xa đã cậy mở trống ra và gặp một cô nàng rất xinh đẹp, không thể có ngôn từ tả hết những nét xinh đẹp của nàng.

Gặp La Xa, nàng Xu Ma đã kể hết mọi hoàn cảnh gia đình và gặp sự tàn phá của vợ chồng quạ vàng làm đất Mường Chắc Khịt và toàn bộ triều đình phải tan nát, chỉ còn lại những đống xương người chồng chất …

Biết nàng là một công chúa con vua Mường Chắc Khịt, vua thương yêu và cầu hôn với nàng và mời nàng lên ngựa về mường Viêng Chăn chung sống.

Cuộc sống ban đầu của nàng Xu Ma (Nàng Cống Căm Đanh) được vua La Xa quan tâm, săn sóc gần gũi, nên bà hoàng hậu vợ cả của vua La Xa nổi cơn ghen tức, bầy mưu ác độc tìm cách thủ tiêu và gây bao rắc rối, khổ cực cho Nàng Cống Căm Đanh.

Một thời gian sau, nàng có mang với vua La Xa. Đến kỳ sinh nở nàng sinh ra bốn con trai vì quá mệt nàng đã lịm đi. Bà vợ cả là A Khi sai gái hầu Xi Khong vơ tất bốn sinh linh vào một cái vại, rồi đậy nắp lại vác đi trôi sông. Còn A Khi lấy bốn con chó con về đặt nằm thay thế bốn bé trai. Khi tỉnh dậy Nàng Cống Căm Đanh với tay sờ con thì giật mình thấy bốn con chó con. Cùng lúc đó A Khi lên báo với vua La Xa, bảo rằng Nàng Cống Căm Đanh đẻ ra bốn con chó và cho bọn gái hầu loan báo cho các quan lại triều đình biết chuyện Nàng Cống Căm Đanh đẻ ra chó, vì bà hay chăm lợn gà, chăm bày chó nên có con với chó.

Vua La Xa không biết rõ đầu đuôi thực hư ra sao, nghe vợ cả nói vậy là tức giận, cho là nàng đã làm mất mặt vua, xỉ nhục triều đình nên bắt nàng đi tù, và dọn khỏi cung đi ở một mái lều đơn sơ góc vườn, hàng ngày chăm bày gia súc.

Còn bốn bé trai trôi sông may được vợ chồng già coi rừng mãi không có con vớt lên xem và ẵm về nhà chăm sóc. Bà vợ vào rừng lấy thuốc về lam uống để có sữa nuôi con. Rồi ngày tháng trôi qua, bốn đứa trẻ lớn lên khoẻ mạnh, khôi ngô.

Được tin bốn đứa trai còn sống, A Khi bày cách trừ khử và cho Xi Khong mang thuốc độc đến tận nơi để đầu độc chúng. Khi Xi Khong đến nhà thì vợ chồng già đi làm. Còn bốn đứa trai đang chơi trong vườn sau nhà. Thế là Xi Khong mang thuốc độc lừa cho bốn đứa bé trai uống rồi bỏ về.

Cuối chiều vợ chồng già coi rừng trở về. Gọi thì thấy vắng vẻ, không thưa, tìm ra vườn sau nhà thì thấy cả bốn đứa bé trai đã tắt thở chết. Vợ chồng già kêu trời đất, tìm mọi cách cứu chữa không được đành gạt nước mắt, mang bốn đứa trẻ chôn ở trên đất sau nhà. Ít lâu sau tự nhiên trên mộ bốn đưa trẻ mọc lên bốn cây đại, rồi lớn lên nở hoa toả hương khắp mường Viêng Chăn thành nơi tụ tập khách thập phương đến ngắm và trai gái khắp nơi đến chơi dưới bốn cây đại để được ngửi hương thơm quyến rũ của loài hoa này.

A Khi biết được tin trên mộ bốn bé trai đã mọc thành bốn cây đại quý; để tiệt nọc dòng dõi con tạo A Khi sai quân đến chém bốn cây đại, nhưng đắn mãi không được, búa dao bị mẻ, mà thân cây đại không có dấu vết gì. Chặt không được đành phải về cung báo với A Khi. Biết vậy A Khi ăn không ngon ngủ không yên, nếu không làm nhanh thì tội lỗi sẽ trở lại với mình. A Khi sai Xi Khong đến bảo hai vợ chồng già trông rừng đào bật gốc rễ bốn cây đại, nếu không sẽ dùng gươm chặt. Biết được lòng ác độc của bà vợ vua, vợ chồng già thương tiếc gạt nước mắt chặt đào bốn cây đại như tự giết con mình. Nhưng trước lệnh bà vợ vua đành phải gắng sức đào bật gốc rễ cây đại lên. Sau đó A Khi sai quan hầu khiêng bốn cây đại thả xuống dòng sông Mê Kông. Cô gái hầu, cận thần của vợ vua sau khi cho đào bật rễ bốn cây đại và vứt cây xuống sông Mê Kông trở về hy vọng sẽ được trọng thưởng nhưng ngờ đâu A Khi dùng dao nhọn đâm chết để bịt đầu mối.

Bốn cây đại, sau khi trôi qua bao dòng xiết, bao thác ghềnh, trôi vào mắc ở một bãi cát lớn giữa dòng, cùng bám rễ mọc mầm xanh mướt, chim bay lượn đậu cành mọc tứ phía. Nơi có núi Pha Cản, trên núi có ngôi chùa và vị thần trông coi. Ngọc Hoàng trên trời cũng hay xuống xuống đây để họp bàn… Biết được mọi sự việc xảy ra, Ngọc Hoàng sai người xuống tận nơi và đưa bốn cây đại lên núi Pha Cản và Ngọc Hoàng trực tiếp tưới nước hồi sinh và chăm sóc, quạt cho bốn cây đại với nhiều phép bùa cao tay nên bốn cây đại đã trở lại thành bốn chàng trai, bốn tướng tài giỏi, đức độ:

Anh Cả được đặt tên là Căm Khao

Anh thứ hai đặt tên là Căm Liêng

Người thứ ba gọi là Căm Ngân

Em út thứ tư là Kim Cương

Bốn anh em trai, ai cũng tài giỏi đặc biệt Kim Cương em út, có khí phách dũng mãnh, tác phong xông xáo và học được tài bùa phép của Ngọc Hoàng truyền dạy cho, tạo cho Kim Cương có bản lĩnh và sức mạnh phi thường nổi trội.

Một ngày Ngọc Hoàng xuống thăm tận núi Pha Cản và triệu tập bốn anh em trai đến bàn. Ngọc Hoàng nói rành rẽ về gia cảnh bốn anh em trai, về người mẹ sinh thành bốn tạo và bốn anh gặp ác khổ ra sao. Bốn anh em hiểu ra, cảm thấy thương và nhớ mẹ da diết muốn sớm được cứu lấy mẹ khỏi bọn gian ác nên xin Ngọc Hoàng cứu ngay lấy mẹ và giúp đỡ sức mạnh. Chủ vua trời dạy thêm phép bùa, rồi mới cho xuống, để bảo vệ xây dựng tiếp bản mường.

Lúc đó Ngọc Hoàng ra phép bùa thành bốn chiếc thuyền lớn với nhiều tướng quân đầy bốn thuyền lớn và mời bốn anh em trai lên ngồi giữa thuyền. Ngọc Hoàng biến thành ông già râu dài, tóc bạc mặc bộ quần áo trắng phau đưa quân tướng mạnh và bốn chàng trai và bắt đầu cho thuyền rời bến đến mường Viên Chăn cứu người mẹ là Nàng Cống Căm Đanh.

Cuộc chiến cứu mẹ, gặp vua cha giải oan cho mẹ và xử lý A Khi – người gian ác đã hoàn tất. Ngọc Hoàng trở về trời, còn mấy em em làm nốt phần việc ổn định, bình yên cuộc sống triều đình vua Viêng Chăn.

Sau khi mẹ con đoàn tụ, vua Viêng Chăn được gặp lại vợ và bốn đứa con trai mình. Theo ý nguyện của nàng Xu Ma là muốn thực hiện bổn phận giải phóng, khôi phục sự sống bình yên cho nhân dân vùng mường Chắc Khịt, củng cố lại triều đình và ngôi vua Xu Vông.

Ý định này đã được giao cho Kim Cương, còn ba người anh đã trở lại với lời hứa hẹn với các nàng khi còn đang hành quân trên đường về cứu mẹ tại mường Viêng Chăn.

Kim Cương trở lại mường Chắc Khịt với binh hùng, tướng mạnh, với phép bùa Ngọc Hoàng truyền cho. Đã giải phóng mường Chắc Khịt từ điêu tàn đổ nát, từ đống xương người chồng chất hoá trở lại thành người như cũ. Kim Cương đã dựng lại ngai vàng, thành quách cho ông ngoại, bà ngoại là vua Xa Vông ở mường Chắc Khịt.

Cuộc sống lại trở lại bình yên, no ấm, dân mường vui mừng đến chào vị tướng Kim Cương. Xong sứ mệnh tại quê ngoại, Kim Cương đưa quân trở về Viêng Chăn lo dựng mường cùng bố mẹ.

Đó là truyện thơ về Nàng Cống Căm Đanh.

(Đây là bài tóm tắt của cố Nhà thơ Cầm Hùng, nên câu văn có khác đôi chút với các bài tóm tắt của Cà Chung).