Người Thái ở Việt Nam có chữ viết khá sớm và ý thức đầy đủ về ghi chép lịch sử dân tộc từ ngàn năm nay. Những tư liệu lịch sử đó bao gồm: Bộ Quam tô mương, Quam phanh mương (hoặc phiết mương), Sử thi Táy pú xớc…
– Quam tô mương (nghĩa là truyện kể về mường): Ở mỗi mường Thái đều có Quam tô mương của mường mình, ghi lại các sự kiện lịch sử, gia phả của dòng họ thủ lĩnh (phìa, tạo, án nha) cha truyền con nối, hết thế hệ này đến thế hệ khác. Ở phần mở đầu và giai đoạn thế kỷ XII về trước cơ bản giống nhau giữa các mường. Đoạn mở đầu mang tính thần thoại kể về quá trình hình thành thế giới và loài người. Giai đoạn bắt đầu được ghi chép là từ khi Tạo Xuông – Tạo Ngần đưa dân Thái từ Mường Ôm, Mường Ai phía đầu nguồn sông Hồng vào khai khẩn đất Mường Lò. Rồi đến Lạng Chượng (cháu Tạo Xuông) dẫn đoàn quân chinh chiến đi khai phá các vùng đất lập bản dựng mường trên khắp lưu vực sông Đà, Mã, Nặm Dôm, nặm Núa… Cuối cùng ông đã ở Lại Mường Then huyền thoại. Cháu đời thứ 12 của Lạng Chượng là Lò Lẹt (biệt hiệu là Ngu Háu) đã trở lại Mường Muổi và phát triển Mường Muổi thành trung tâm của người Thái. Đến cháu Lò Lẹt là Ta Ngần đã tiếp tục sự nghiệp cha ông đưa Mường Muổi thực sự thành trung tâm quy phục các mường anh em khác.
Giai đoạn tiếp sau, mỗi mường đều ghi chép các sự kiện lịch sử của mường mình, nhưng vẫn ghi cả sự kiện quan trọng cùng thời diễn ra ở các mường Thái anh em khác. Nhìn chung các bản Quam tô mương đều ghi chép đến trên 40 đời thủ lĩnh. Hình thức ghi chép chủ yếu theo lối văn vần, ngôn ngữ và câu văn rất giống lối nói văn có vần vè như thói quen thường ngày của người Thái xưa nay. Có những đoạn đã rõ khổ thơ, luật thơ, nhưng có đoạn lại mộc mạc như cách nói thông thường.
– Quam phanh mương (hoặc phiết mương): Thực chất là lịch sử diễn ca (hay truyện thơ lịch sử), nên nó được sử dụng thể thơ chính thống của dân tộc Thái, người ta có thể ngâm hát. Quam phanh mương có hai loại:
+ Phanh mương nọi (lịch sử diễn ca nhỏ): Là diễn ca lịch sử kể khá tỷ mỷ về một sự kiện lịch sử nổi bật hoặc những sự kiện lịch sử ở những vùng cát cứ khác nhau mà Quam tô mương không thể nói chi tiết được.
+ Phanh mương luông (lịch sử diễn ca lớn): Thực chất là một hình thức thể hiện khác của Quam tô mương (diễn ca hoá). Về hình thức giống Phanh mương nọi nhưng nội dung của nó là diễn ca lịch sử toàn dân tộc Thái. Quam phanh mương luông Mường Muổi dài tới 2.375 câu, kể từ thời Pú chảu Ngu Háu đến thời Bạc Cầm Quý làm Tri Châu.
Quam phanh mương chắc chắn xuất hiện sau Quam tô mương, nó phát triển từ Quam tô mương mà ra. Có thể nó mới xuất hiện vài ba thế kỷ gần đây, vì thấy xuất hiện những từ tiếng Việt trong đó. Tuy vậy nó cũng đã đủ thời gian cho sự truyền bá rộng rãi, đến nay các vùng Thái khác nhau vẫn còn lưu giữ nhiều bản sao chép Quam phanh mương.
– Sử thi Táy pú xớc:
Táy pú xớ có nghĩa là lần theo dấu tích chinh chiến của cha ông. Đây là một trích đoạn lịch sử bằng thơ kể về cuộc chinh chiến của cha ông trong giai đoạn từ khi Tạo Xuông – Tạo Ngần dẫn người Thái vào Mường Lò đến Lạng Chượng bình định được Song Thanh (Điện Biên) cách đây gần ngàn năm. Đó là thời đại anh hùng nhất của lich sử dân tộc Thái, có tính quyết định về sự tồn tại các bản mường Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Trong xu thế phân định lãnh thổ tộc người của cộng đồng ngữ hệ Thái lúc đó, giai đoạn lịch sử này đã quyết định sự phân định lãnh thổ cho các bản mường Thái thuộc lãnh thổ Việt Nam hiện nay.
Về hình thức, Táy pú xớc khác hẳn “diễn ca lịch sử” của các các Quam phanh mương, nó là “sử thi” để đọc ngâm chứ không phải để hát ngâm. Cách diễn đạt, biểu tả thì gần giống Quam tô mương, nhưng nó là thơ thực sự, khác với Quam tô mường mang tính pha trộn văn vần và văn xuôi. Táy pú xớc sử dụng thể thơ năm chữ làm nòng cốt, nhưng nó cũng xen thể thơ nhiều chữ khác để phá thế đơn điệu. Ngôn ngữ, hoàn toàn là ngôn ngữ dân tộc Thái không một chút pha tạp, nhưng lại rất uyên bác.
Ngoài ra thuộc vào hệ thống tư liệu lịch sử còn có Mo khoăn và Páo khoăn. Đó là các bài văn chiêu hồn các liệt sĩ thời kỳ chinh chiến anh hùng của Lạng Chượng. Chúng được sử dụng trong các buổi tế lễ của mường cho đến gần đây.
Tóm lại, các tư liệu lịch sử thành văn nói trên đã khẳng định ý thức ghi chép lịch sử của dân tộc Thái. Táy pú xớc và phần đầu của Quan tô mương là tư liệu lịch sử rất cổ xưa, ngôn ngữ các tư liệu này đã nói lên điều đó. Phần sau của Quam tô mương đã được từng mường viết tiếp vào các giai đoạn tiếp theo. Còn Quam phanh mương (phiết mương) thì xuất hiện sau này, các tác giả đã sử dụng tư liệu từ Quam tô mương để “diễn ca” hoá.
Theo phán đoán của một số nhà nghiên cứu người Thái (Gs Cầm Cường, Cầm Trọng…), có thể tác giả của Táy pú xớc và khởi thảo Quam tô mương là hàng ngũ các Mo mường từ thời bình định xong Mường Thanh. Vì các Mo mường là những tri thức lớn đương thời của dân tộc Thái. Họ uyên bác về ngôn ngữ, hiểu biết uyên thâm lịch sử và văn hoá dân tộc, đồng thời còn là mưu sĩ của các triều Tạo.