Dân tộc Thái có những hình thức sinh hoạt văn hoá rất phong phú như: các lễ hội cầu an, cầu mưa, hội tung còn, lễ cơm mới, lễ hội xên lẩu nó, lễ cưới, lễ mừng nhà mới v.v… Trong đó “khắp” là một hình thức sinh hoạt tinh thần không thể thiếu được. Trong đám cưới, người ta có thể khắp với nhau kéo dài hết ngày này qua ngày khác, có khi kéo dài ba bốn ngày. Ở các ngày lễ, Tết, lớp trai gái trẻ khắp với nhau thâu đêm suốt sáng… Cả người hát và người nghe đều say xưa thán thưởng. Sau các cuộc vui như vậy, người ta thường không quan tâm đến bữa tiệc có những gì, mà chủ yếu là bàn luận về những làn điệu khắp của người nọ, người kia. Vào trong bản người Thái hiện nay, người dân không bỏ qua chương trình phát thanh khắp Thái của Đài Phát thanh truyền hình Sơn La, thậm chí còn sốt ruột đợi chờ. Nhà nhà đều có dăm ba chục đĩa video khắp Thái, thường mở mỗi khi có khách đến chơi nhà.
Khắp nghĩa thực là hát, nhưng còn có nghĩa là thơ ca, làn điệu dân ca, cách trình diễn thơ ca… Những lời khắp có vần vè như thơ nhưng hơn nữa nó còn có nhạc điệu và tiết tấu rất cao.
Có lẽ ngay từ thời kỳ hái lượm, săn bắt, người Thái đã có những từ “thút phắc” (ngọn rau), “đuông nó” (cái măng), “cản bon” (bẹ khoai nước)… Khi chuyển sang thời kỳ nông nghiệp lúa nước định hình thì đã có các từ “pết” (vịt), “cáy” (gà), “sáy” (trứng), “xuân” (vườn)… Đó là những từ sinh hoạt đơn giản rời rạc. Đến khi hình thành xã hội bản mường, người ta có thể ghép những từ đơn lẻ đó thành các cụm từ như: “thút phắc, đuông nó”; “cản bon, hon nó”; “pết sáy, cáy khăn”; “pết sáy, cáy xuân”… Những cụm từ như vậy càng ngày càng xuất hiện nhiều và dần dà phát triển thành các câu thành ngữ, tục ngữ (quãm khống khái).
Khi xã hội bản mường phát triển thì xuất hiện những cụm từ gồm nhiều chữ hơn và có vế, có vần như:
Khan pên pết nọi hã chí xo ép sáy
Khan pên cáy nọi hã chí xo ép khăn
Khan pên xao pun lan chí xo ép vãy tặc tuộng
(Là vịt con ta xin học đẻ trứng
Là gà con ta xin học gáy te te
Là gái lứa cháu xin học nói học chào)
Phẵng quãm pết mẵn chí xia sáy
Phẵng quãm cáy mẵn chí xia xuôn
Nhẵng quãm nhuỗn năm chí xia pi nọng
(Nghe lời vịt sẽ mất trứng
Nghe lời gà sẽ mất vườn
Nghe lời xúc xiểm sẽ mất tình anh em)
Tộc té nọi kin khảu bái nó
Khó té nọi kin khảu bái bon
(Cực từ nhỏ ăn cơm trộn măng
Nghèo từ nhỏ ăn cơm trộn lá khoai nước)
Cùng với những câu có vế có vần đó người ta đã tạo cho nó những nhịp điệu, tiết tấu cho phù hợp. Thế là khắp xuất hiện. Xã hội bản mường là điều kiện chín muồi để phát triển và định hình các thể loại khắp, đồng thời phát triển mạnh thể loại kể chuyện dân gian bằng khắp.
Hiện nay có khá nhiều làn điệu khắp khác nhau tuỳ theo nội dung bài khắp, tuỳ thuộc ngữ cảnh người khắp, tuỳ từng địa phương…
Theo nội dung: nếu là “Quan tô mương” hay “Táy pú xấc” (sử thi) thì không khắp mà chỉ “lôn” tức đọc có làn điệu. Nếu là “Chương Han” (anh hùng ca) thì chỉ “khắp xư” nghĩa là ngâm tương tự ngâm thơ trong tiếng Việt. Còn các tác phẩm như Xống chụ xon xao, Tản chụ Xiết xương, Xcók xken thì khắp theo điệu “báo xao” hoặc “pãn lảu pãn khảu”…
Theo ngữ cảnh: khi đang trên rừng kiếm củi hái măng thì khắp theo điệu “khảm pá qua đông” (hát qua rừng qua núi), khi đi trên đường thì khắp theo điệu “long tông” (hát đi trên cánh đồng), khi trên mâm rượu thì khắp điệu “pãn lảu pãn khảu”, khi múa vòng hay trên hạn khuống thì khắp điệu “báo xao”…
Theo địa phương: mỗi địa phương sẽ có làn điệu khắp khác nhau như “khắp Tãy Muổi”, “khắp Tãy La”, “khắp Tãy Lay”… Trong đó có thể gộp lại thành bốn nhóm chính như sau: Nhóm Muổi – La – Mụak – Thanh: nhóm này mỗi mường có làn điệu rất khác nhau, nhưng vì người các mường này có điệu nói tương tự nhau nên họ có thể hát chuẩn tất cả các làn điệu của mường khác trong nhóm, người Mường La, Mường Mụak có thể hát chuẩn làn điệu “Tãy Muổi”, “Tãy Thanh” và ngược lại. Nhóm này thường đệm bằng các loại nhạc cụ: “pí pặp”, “xlo”, “pí tam lãy”.
Nhóm Lay – Xo – Chiên: Nhóm này tuy có khác nhau đôi chút về làn điệu nhưng họ có thể hát chuẩn giữa các làn điệu trong nhóm. Nhóm này thường đệm nhạc bằng “tính tẩu”.
Nhóm Sang – Tấc: Nhóm này có hai làn điệu chính là “Tãy Sang” và “Tãy Tấc”. Người trong nhóm này có thể nghe và hát được làn điệu của nhau. Nhóm này thường đệm nhạc bằng “pí thiu” (hoặc “pí khúi”).
Nhóm Tãy Vạt: Người Mường Vạt thì có một làn điệu hát riêng theo giọng điệu nói của họ, phù hợp với “kẽn la” (khèn bè) làm nhạc cụ đệm.
Ngoài ra thuộc về làn điệu khắp còn có khắp “đếch nọi” (hát đồng dao), khắp “ú u nọi” (hát ru), khắp “một láo”, khắp “một ắn ni” (hát cúng), khắp “páo khuôn” (hát chiêu hồn)…
Nội dung khắp cũng rất phong phú, nhưng có thể chia làm hai loại chính là “khắp bắc” (hát sáng tác mới), khắp “quãm pang chạu” (hát lời truyền thống). Khắp bắc là khắp trong các cuộc hát vui, cuộc biểu diễn, đó là những bài thơ do các nhà thơ sáng tác mới để ca ngợi Đảng, ca ngợi đất nước, con người… cũng có khi người khắp tự sáng tác cho phù hợp vỡi ngữ cảnh. Khắp lời truyền thống là lối khắp đang rất phổ biến hiện nay. Trong các cuộc khắp đối đáp, khắp giao duyên, người khắp sẽ chọn những câu, đoạn trong “vốn kiến thức” của mình để khắp cho phù hợp. Vốn kiến thức là những lời khắp trong các tác phẩm nổi tiếng như: Xống chụ xon xao, Khun Lũ Nãng Ủa… hoặc các bài khắp truyền thống được lưu truyền trong dân gian. Các bài khắp truyền thống hiện nay có đến hàng mấy trăm bài, chia làm các loại loại sau:
Tản chụ xống xương: là một khúc ca dài tự sự kể về nỗi lòng của kẻ đã uổng công vun đắp cho một mối tình đằm thắm để đạt được một gia đình hạnh phúc. Nhưng mối tình đã bị phụ bạc, tan vỡ. Người bị phụ tình đã thốt lên những lời oán trách đầy yêu thương.
Tản chụ xiết xương: là một hệ thống các bài hát để nói “kháy yêu” nhau theo kiểu tâng người hạ ta. Người khắp thường khen đối phương về nhiều mặt như: xinh đẹp, khéo nói, khéo tay, giàu sang… đồng thời cho mình là xấu xí, dốt nát, nghèo khó… đến mức quá đáng. Thực chất là mượn chủ đề tình yêu để thi thố tài năng đối đáp văn học nghệ thuật giữa các cặp hát đối.
Quãm Xcók – xken: Gồm các bài khắp về thách đố đùa vui thử trí thông minh đối phương. Thường cô gái sẽ đưa ra những lời thách đố chàng trai phải làm được một điều nào đó thì mới lấy được cô làm vợ. Có điều những lời thách đố đó là những điều bí hiểm, không có trong thực tế. Chẳng hạn, cô muốn ăn măng tre mọc trên không trung, muốn ăn măng nứa mọc trên trời cao, hay cô nàng đi đến một nơi nào đó trên cõi thần thiên đố chàng tìm được…
Ngoài ra khắp truyền thống còn có các thể loại “Tản ỉn tản mặc” (Lời tỏ tình), “Mỡi lảu”, “vảy lảu” (Mời rượu, từ chối rượu), “Xống khươi, tỏn pạư (Tiễn rể, đón dâu), “Khắp tạ”, “khắp thãi pon” (câu đố thông thường)…
Thanh niên Thái trước đây, ai cũng phải biết khắp, nếu không sẽ chẳng quen được với ai chứ chưa nói đến yêu đương. Bởi lẽ trai gái đối đáp, giao duyên, với nhau đều bằng khắp hoặc vay (đọc ngâm). Muốn làm quen, thăm hỏi, mời rượu, muốn từ chối rượu, muốn tỏ tình… đều phải dùng hình thức khắp. Đây là một nét văn hoá rất đẹp của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Tuy vậy trong vài chục năm gần đây, hình thức này đang bị mai một dần. Bởi vì hiện nay nhiều văn hoá dân tộc khác (tiếng Việt, tiếng Anh…) được thể hiện bằng nhiều phương tiện hiện đại đã và đang dần dần thay thế.
Để bảo tồn và phát triển nền văn hoá của mỗi dân tộc, chúng ta cần phải chú trọng quan tâm, tạo điều kiện để dân tộc đó giữ gìn và phát triển nền văn hoá riêng của mình thông qua việc tạo ra các phương tiện, chương trình hiện đại cho họ phát huy bản sắc dân tộc mình, như Luật di sản văn hoá quy định “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hoá phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”.