Có một cô gái tên là Nàng Hai, cha mất từ khi mới lọt lòng. Sau đó không lâu mẹ cô lại qua đời để lại cô sống cùng với người anh trai. Theo năm tháng, cô cũng lớn lên rồi trở thành một thiếu nữ. Nhưng cô nàng rất buồn chán bởi số phận nghèo khó của mình. Nàng chỉ ước ao sau này có được một gia đình êm ấm. Một đêm, nàng kéo sợi ở sàn ngoài, nhìn muôn vàn vì sao sáng lấp lánh mà ước mơ có một người yêu và được làm vợ người đó. Thế là một ngôi sao liền rơi xuống trước mặt nàng và biến thành một chàng trai tuấn tú đến với nàng. Họ đã tâm sự, quấn quít lấy nhau và hẹn ước với nhau sẽ nên vợ nên chồng. Nhưng vì chàng là “người trời”, khi trời sáng chàng không thể để nguyên hình được, nên biến thành một quả cau (tiếng Thái gọi là mák lang). Nàng liền đem vào buồng, vờ ốm để nằm ôm ấp quả cau quên cả ăn uống. Đêm về quả cau đó lại biến thành chàng trai nằm cạnh, ân ái cùng nàng. Trời sáng, chàng lại biến thành quả cau, nàng đem cất vào trong giỏ, để trong buồng riêng của mình không cho ai biết.
Một hôm khi nàng cùng các cháu đi tắm, chị dâu của nàng đã vào buồng xem trộm. Thấy một quả cau trong giỏ, chị ta liền cắn ăn thử. Nhưng một dòng máu tươi chảy ra và mùi tanh tưởi bốc lên, chị ta liền vứt xuống vườn trước nhà. Nàng đi tắm vừa về đến nhà đã vội vàng vào buồng với quả cau. Không thấy quả cau đâu, nàng liền hỏi chị dâu và được trả lời là chị ta đã vứt xuống vườn rồi. Nàng chạy xuống vườn tìm thì thấy một cây rau dền (tiếng Thái gọi là phắc hôm) xanh tốt mọc lên. Biết là chàng nên nàng đến nói chuyện và xin lỗi chàng và hẹn chàng tối tối hãy đến với nàng. Từ đó, đêm đến chàng Lang Hôm lại hiện hình thành chàng trai đến với Nàng Hai. Ban ngày, thì nàng xuống vườn làm cỏ vun xới để được gần chàng. Một hôm, chị dâu sai con xuống xem vườn, chúng thấy cây rau rền xanh tốt nên ngắt về nhà. Chị dâu nàng đem vào chõ và xôi lên. Vừa lúc nàng về thì chõ xôi cũng vừa bốc hơi. Chị dâu nói cho nàng biết là cây rau đã bị các cháu ngắt và chị đã đem xôi rôi. Nàng lập tức vồ lấy chõ xôi định đổ ra nhưng nàng nhìn thấy chàng cưỡi ngựa từ chõ xôi bay ra. Nàng gọi với theo nhưng chàng chẳng trả lời mà vẫn tiếp tục bay đi trên không trung. Nàng vội vàng chạy theo chàng dưới đất, còn chàng thì bay trên không, không ngoái đầu lại rồi mất hút vào không trung.
Nàng Hai vẫn cứ theo hướng đó mà chạy theo chàng giòng giã mấy tháng trời. Đi qua bao núi cao, rừng sâu rồi đến đất của ma quỷ. Cái thai trong bụng cứ lớn dần lên theo ngày tháng. Rồi nàng gặp vườn mía của ma “Da Bái” – một nữ quái chuyên ăn thịt người. Đói quá nàng liền bẻ mía ăn. Da Bái nghe tiếng bẻ mía liền đến xem thì thấy nàng đang ăn mía. Mụ ta mừng rỡ vì có miếng thịt tự tìm đến miệng. Nàng Hai khóc lóc van xin, xin làm kẻ hầu người hạ, mụ ta cũng không tha. Cuối cùng nàng nói: nàng đã có thai bảy tháng rồi, nếu sinh con gái sẽ cho bà ăn thịt, nếu sinh con trai sẽ cho bà lấy làm chồng. Mụ ta hớn hở nhận lời và nhốt nàng vào trong hang. Đến ngày, nàng sinh được con trai kháu khỉnh. Da Bái thấy hả lòng hả dạ vì sắp có chồng. Mụ ra sức tìm kiếm thức ăn đem về nuôi dưỡng cho chồng chóng lớn. Nhưng, thấy con càng lớn lên Nàng Hai càng lo sợ. Nàng vắt óc tìm cách chốn khỏi tay Da Bái. Trong lúc mụ đang âu yếm chồng, nàng cáu vào mông bé để bé khóc ré lên. Mụ hỏi sao khóc, thì nàng nói: chồng bà muốn được giữ bùa phòng thân của bà, muốn chiếc gậy thần của bà, muốn giống mía ngon của bà… Thương chồng nên chồng đòi gì mụ cũng cho.
Nắm chắc được quy luật đi lại của Da Bái, chọn một hôm mụ ta đi lâu thì Nàng Hai tiến hành chạy chốn. Nàng đến chào mọi vật trong nhà và dặn chúng khi Da Bái gọi thì trả lời thay. Rồi nàng địu lấy con xuống chuồng gà lấy một quả trứng gà đang ấp cho bé cầm mang theo, nhưng lại quên không dặn gà mái đang ấp.
Nàng địu con băng qua núi rừng hiểm trở. Gặp một cây gỗ to đổ chắn đường, nàng cầu xin hãy cho nàng qua và khi Da Bái đến nói với mụ ta là không thấy ai qua đây. Cây gỗ thấy thương tình liền thu nhỏ lại để hai mẹ con đi qua. Đến một khu rừng rộng rậm rạp khó đi, nàng liền vứt giống mía ra. Một rừng mía mênh mông hiện ra trước mặt. Nàng vội vã đi tiếp và gặp một dòng sông chắn ngang đường. Nàng lấy cây gậy thần ra chỉ vào dòng sông. Bỗng con sông cạn kiệt và hiện ra một con đường cho hai mẹ con đi. Vừa đi qua thì sông lại hiện ra như cũ.
Chiều tối, Gia Bái trở về nhà, thấy cửa đóng im ỉm, mụ gọi cửa. Cái bếp trả lời: đang bận nhóm bếp. Một lúc lâu mụ lại gọi thì chõ trả lời: đang vo gạo. Chờ lúc nữa, mụ gọi thì cái kiềng trả lời bé đang bú… Chờ lâu quá Da Bái bực mình liền đạp cửa đi vào thì trong nhà vắng tanh. Mụ hỏi mọi vật trong nhà đều không biết. Con gà mái đang ấp trứng bực mình liền nói hết với mụ. Mụ gõ chuông gọi lợn “xí phók hả lông” về. Đây là con lợn đặc biệt, mình to, không ra đực, không ra cái, là con vật cho mụ cưỡi đi với tốc độ rất nhanh. Da Bái nhảy lên lưng lợn chạy băng trên rừng theo dấu vết của nàng Hai. Đến chỗ cây đổ, lợn chui thì thân cây dính sát đất, bước qua thì cây to lên, muốn tránh thì cây dài ra. Thế là lợn phải dùng răng cắn mấy ngày mới đứt cây gỗ. Đến rừng mía, lợn ì ra ra không chịu đi, ăn hết cả rừng mía lợn mới đi tiếp. Qua trăm ngàn núi cao vực thẳm thì đến gặp dòng sông, vừa lúc hai mẹ con nàng Hai đang ở bờ bên kia sông. Da Bái gọi với sang, hỏi làm cách nào qua được sông. Nàng Hai giật mình, trả lời rằng: hãy đan một cái rọ cho đầy đá và khoác lên mình lợn. Mụ ta tưởng thật làm theo, lợn lao xuống sông thì chìm nghỉm…
Quả trứng bé cầm trên tay bỗng nở thành chú gà trống choai, cất lên tiếng gáy. Nàng Hai đang chưa biết sẽ đi tiếp đường nào, liền hỏi gà. Nghe theo lời khuyên của gà, nàng địu con rảo bước theo gà dẫn đường. Qua bao ngày đêm mệt mỏi, đói khát, cuối cùng đến một vùng đất rộng. Chú gà cất lên bốn tiếng gáy thì mọi thứ bỗng thay đổi. Trước mặt hiện ra một khu nhà rộng lớn, có rất nhiều ruộng lúa, trâu bò, có cả kẻ hầu người hạ. Bỗng chốc Nàng Hai trở thành bà chủ giàu sang, quý phái, mọi người kính nể.
Một thời gian sau, chú gà chết, hai mẹ con và mọi người thương tiếc, lo mai táng chu đáo. Còn hai chân đem chôn gần cổng thành, biến thành hai mó nước mát trong. Ngày tháng trôi đi, cậu bé năm nào đã khôn lớn, trở thành cậu chủ cùng mẹ lãnh đạo dân mường.
Từ khi xa Nàng Hai, Lang Hôm rất nhớ thương nàng, chàng đã đi nghe ngóng, tìm kiếm. Cuối cùng thì cũng tìm đến được đất mường của hai mẹ con. Chàng và nàng gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Nàng cho mổ trâu ăn mừng và cúng bái trời cao đã cho họ đến được với nhau.