Theo chân anh Tòng Xôm (bản Mòng, xã Hua La, thành phố Sơn La), chúng tôi đến một bãi cát rộng, nơi con suối Tong chảy vào dòng Nậm La. Anh nói, trước năm 1991 chỗ này là một vũng nước sâu, gọi là Văng Tong, là nơi trú ngụ của thần thuồng luồng, chúa tể của suối Nậm La. Ngày trước, ở đây cũng như dọc theo con suối Tong về phía đầu nguồn là một cánh rừng nguyên sinh rậm rạp. Phía dưới là vũng nước sâu, trong xanh đến rợn người. Không ai dám đi qua đây một mình. Có việc qua đây, ai cũng phải cúi lạy, cả phìa, tạo cũng phải xuống ngựa mà đi bộ. Phụ nữ qua đây đều phải bỏ khăn piêu xuống và lặng lẽ bước đi.
Tương truyền rằng, ngày xưa có một tốp con gái lên rừng hái lá dong để đem về gói bánh chưng ngày tết. Rồi một cô gái xinh nhất đã trượt chân, rơi xuống hang sâu và mất tích. Hôm sau, một gánh lá dong nổi lên tại vũng nước này, nên mới có tên gọi là Văng Tong (“văng” nghĩa là vũng nước sâu, “tong” nghĩa là lá dong). Người ta nói, cô gái xinh đẹp kia đã bị chúa tể Băng Tong bắt về làm vợ.
Người dân ở vùng này nói riêng và người Mường La nói chung đều coi đây là rừng thiêng vào bậc nhất, bởi nó là đầu nguồn của suối Nậm La – nguồn nước cung cấp cho cả cánh đồng Mường La (nay là Thành phố Sơn La). Vì vậy không ai dám vào rừng thiêng này để hái măng kiếm củi chứ chưa nói đến việc chặt cây phá rừng. Kể cả Văng Tong nhiều cá là thế, nhưng không ai dám ho he đến nhòm ngó. Luật tục Thái Mường La đã quy định: Đây là rừng thiêng để thờ cúng thần linh, không ai được xâm phạm, nếu ai xâm phạm sẽ bị phạt nặng theo quy định đã được ghi sẵn trong hương ước.
Thế rồi, vào những năm 80 của thế kỷ trước, cũng như nhiều nơi khác, dân Hua La cũng đi phá rừng để trồng lúa, trồng ngô. Một số người trẻ tuổi không biết sợ thần linh là gì, đã dám xâm phạm cánh rừng thiêng đầu nguồn. Thấy người này phá rừng không sao, người khác cũng lao vào phát nương làm rẫy. Rồi mọi người tranh nhau vào tàn phá. Chỉ vài năm sau, cánh rừng thiêng kia đã bị phá gần hết. Những người già thì lo sợ, họ cố ngăn cản con cháu nhưng không được. Họ sợ rồi thần linh sẽ trừng phạt, tai hoạ sẽ ập đến… Thế mà đúng thật. Con suối Tong vốn là một nhánh cung cấp nước đáng kể và ổn định cho dòng Nậm La bỗng nhiên bị cạn kiệt về mùa khô, lũ quét xuất hiện vào mùa mưa. Chưa hết, ngày 27 tháng 7 năm 1991, một sự kiện chưa từng thấy trên lịch sử đã xảy ra. Một cơn lũ kinh hoàng đã tàn phá cả vùng Thị xã Sơn La. Thiệt hại lên đến hàng trăm tỷ đồng, 336 ngôi nhà đã bị cuốn trôi, nhưng đau đớn nhất là 42 người đã bị thiệt mạng… Và Văng Tong – nơi bảo tồn, cung cấp các loại giống thuỷ sản cho cả dòng Nậm La đã trở thành bãi cát.
Đó là sự trừng phạt của thiên nhiên, là hậu quả của những người vô thần, coi thường quy luật và sức mạnh của tự nhiên. Họ nghĩ không có thần thánh hay lực lượng siêu nhân nào cả. Tất cả chỉ là bịa đặt. Đúng, thần thánh thì không có, nhưng sức mạnh của tự nhiên thì còn hơn cả thần thánh.
Cũng may, ngày 12 tháng 8 năm 1991, Luật Bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 9 thông qua. Và ngày 17 tháng 01 năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị định số 17-HĐBT về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Việc phá rừng đã nhanh chóng được ngăn chặn, Sơn La cũng như cả nước đã nhanh chóng trồng và bảo vệ rừng, tỷ lệ phủ xanh của Sơn La đã được tăng nhanh từ 12% (những năm 80) lên 18 rồi trên 20% (những năm đầu của thập kỷ 90). Việc làm đó đã làm nguôi đi sự tức giận của thần linh. Sự trừng phạt của thiên nhiên đã giảm dần khi tỷ lệ phủ xanh được nâng lên.
Trải qua hàng ngàn năm sống với tự nhiên, sống với núi rừng, người Thái nói riêng và người miền núi nói chung đã hiểu được các quy luật của tự nhiên. Từ đó, họ đã đặt ra những luật tục bảo vệ rừng, bảo vệ thiên nhiên. Thần thánh hoá và tạo ra sự huyền bí cho luật tục, nhằm răn đe những ai muốn xâm phạm hệ sinh thái bền vững của tự nhiên. Họ cho rằng khu rừng thiêng là nơi ngự trị của thần linh, đó là nơi che chở cho muôn thú mà con người không được động đến. Nếu ai xúc phạm sẽ bị thần linh trừng phạt. Trước đây, cứ vài năm một lần, người ta phải tổ chức một lễ cúng trâu tại rừng thiêng. Nghi lễ cúng được các mo mường đảm nhiệm. Lễ cúng diễn ra suốt ngày, các chàng trai, cô gái nhảy múa trong tiếng cồng chiêng và hát những bài hát có ý nghĩa: cầu cho mưa thuận gió hoà, trồng lúa lúa tốt, trồng ngô thì được bắp ngô to, săn thú thì gặp những con thú lớn… Nhiều nơi còn cho là: những con thú rừng bị người đi săn bắn bị thương chạy trốn vào rừng thiêng cũng được thần linh bảo vệ, người đi săn nếu đuổi con thú mà nó đã chạy vào rừng thiêng thì cũng phải dừng lại, không truy đuổi nữa… Chính những điều cấm kị như vậy đã ngẫu nhiên biến rừng thiêng trở thành nơi trú ngụ an toàn của nhiều loài động thực vật quý hiếm. Bao đời rồi, người Thái vẫn sống bình yên như vậy và truyền nhau lưu giữ những điều cấm kỵ, để họ còn có được một cánh rừng già hiếm hoi, quý giá như chính sự sùng kính tổ tông và những điều thiêng liêng nhất.
Nói về luật tục bảo vệ rừng của dân tộc thiểu số, nhiều nhà nghiên cứu khoa học cho rằng, những điều luật này hết sức chặt chẽ và khoa học. Các luật tục ấy xuất phát từ sự am hiểu thiên nhiên, am hiểu tác hại của sự khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên. Chính vì thế, trong quá trình sinh sống hàng ngàn năm, sự cân bằng sinh thái ở miền núi luôn được duy trì. Thực tế cuộc sống chứng minh rằng, ở một số vùng dân tộc thiểu số luật tục được gìn giữ, khi kết hợp với luật pháp, sẽ trở thành công cụ bảo vệ trật tự xã hội rất hiệu quả.
Luật tục của người Thái quy định: rừng phòng hộ ở đầu nguồn nước, tuyệt đối cấm khai thác; rừng dành cho việc khai thác tre, gỗ để dựng nhà, phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống thì tuyệt đối không được chặt đốt làm nương. Ở mỗi mường đều có “minh bản nen mương” (hồn thiêng bản mường), có nơi chôn “lắc mương” (cột hồn mương), có núi rừng “rợp bóng bản mường”. Đầu mường có “rừng hồn chiềng” gọi là “Cửa Xen”, cuối mường có “rừng hồn chiềng” gọi là “Cửa Pọng”, cạnh mường có khu rừng mang tên “Chiềng Kẻo” là khu rừng tha ma của mường. Các rừng này đều là rừng kiêng cấm, không được chặt phá… Mỗi bản cũng đều có những cánh rừng cấm, đó là rừng đầu nguồn, “đông tu xửa”, rừng tha ma… Nhiều bản còn có những khu rừng tre, rừng vầu cấm chặt phá gọi là “pá nó hảm” (rừng măng cấm). Sau những trận mưa đầu mùa, măng mọc rộ, người ta mới tổ chức cho cả bản vào rừng hái măng. Sau đó lại “đóng cửa” đợi đến đợt măng sau hoặc mùa măng sau. Các bản xưa còn có những cánh rừng nguyên sinh, dành cho dân bản săn thú, không ai được vào đó đẵn cây đốt cỏ. Những khu rừng “đon khuông” được coi là rừng của thần linh trú ngụ, tuyệt đối không được phá, nếu ai xâm phạm thì sẽ bị hậu quả khôn lường. Rừng chôn cất người chết, thì lại càng không bao giờ có ai dám vào chặt phá. Ở một số nơi, gắn liền với tập tục ma chay của họ, các cây rừng tại khu vực đó chuyên chỉ để an táng cho người chết, mỗi một người chết đi, họ sẽ vào “rừng ma” để chặt hạ một cây gỗ, đem về làm quan tài cho người chết, nhưng khi chặt một cây thì phải trồng lại từ năm đến mười cây…
Tiếc thay, giờ đây nhiều cánh rừng đã bị “giải thiêng”. Nhiều luật tục, trong đó có luật tục đầy tính nhân văn, khoa học đã bị rơi rụng theo năm tháng, nhiều quy định đã bị bãi bỏ không thương tiếc, vì cứ cho những gì thuộc về luật tục đều là lạc hậu.
Theo nhà nghiên cứu Cầm Trọng thì chính từ sự hiểu biết thiên nhiên, mà người dân tộc thiểu số đã tập quán hoá sự hiểu biết ấy. Và những tập quán được nâng lên thành luật tục, để gìn giữ thiên nhiên, để tự nhiên có thể cân bằng với các nhu cầu của con người.