Tháng 10 năm 2008, Thị xã Sơn La sẽ chính thức chuyển thành Thành phố Sơn La. Chiềng Ngần được chọn làm địa điểm xây dựng khu hành chính của Thành phố Sơn La trong tương lai. Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Chiềng Ngần là 4.571,8 ha, xã có 15 bản; 1 tiểu khu; 1.180 hộ dân; 5.963 nhân khẩu và 7 dân tộc anh em cùng chung sống (trước năm 1990 chỉ có 14 bản và 1 dân tộc Thái). Khu đô thị mới Chiềng Ngần sẽ đóng vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao của tỉnh và vùng Tây Bắc, tạo lập môi trường sống phù hợp, cân đối hài hòa giữa mở rộng đô thị với nhu cầu phát triển đô thị. Nằm ở phía đông nam của Thị xã, cách trung tâm Thị xã 8 km, khu đô thị mới là vùng đất phiêng bãi rộng, bằng phẳng dân địa phương gọi là Phiêng Pát. Địa hình nơi đây ít phức tạp, xung quanh được bao bọc bởi các dãy núi đá vôi và đồi đất, độ cao trung bình 670 m, có đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 20oC. Với diện tích gần 442,52 ha, khu đô thị mới Chiềng Ngần có khả năng tiếp nhận 8 – 10 vạn dân định cư sinh sống tại đây vào năm 2010 và 25 – 35 vạn dân vào năm 2020. Đây cũng là một trong những điểm đầu tiên của chuỗi đô thị tương lai Chiềng Ngần – Chiềng Sinh – Mai Sơn.
Chiềng Ngần vốn nổi tiếng xưa nay là vùng đất huyền thoại. Mỗi vùng đất, mỗi ngọn núi, mỗi quả đồi, khe suối, khu rừng… đều có những cái tên và gốc tích ly kỳ hấp dẫn. Với khuôn khổ bài viết này, xin chỉ nêu một số sự tích liên quan đến khu đô thị mới Thành phố Sơn La.
Khu vực Chiềng Ngần trước năm 1945 thuộc Xổng Păn của mường phìa Mường La, (mường trong của châu mường Mường La). Sau ngày giải phóng, vùng đất này được lập nên xã Chiềng La, cái tên lấy từ tên ao Nong La nổi tiếng. Theo các cụ truyền lại, ao Nong La ngày xưa chỉ là cái ao nhỏ nhưng nổi tiếng vì nhiều tôm cá, nhất là cá trê và cá chuối. Đặc biệt, khác hẳn với các ao khác, ao này có rất nhiều cà cuống (người Thái gọi là meng la), nên mới có tên gọi là Nong La. Từ xa xưa, Nong La có mó nước rất lớn, chảy thành con suối trong mát quanh năm. Mó nước này thông với một cái hang nước chảy vào ở tận Chờ Lồng Mường Ái( ), vì người ta thử đổ trấu vào hang nước này thì thấy trấu trôi ra tại mó Nong La. Nhưng do có sự tranh chấp người đẹp giữa tạo Cáy Chốk – Nong La với một ông quan lớn quyền uy bên Mường Mụa, ông quan này đã cho quân đến lấp mó nước Nong La. Họ lấp bằng chín lớp hộp gỗ giổi xen kẽ chín lớp than cây tỉu (thành ngạnh). Năm 1955, với sự hỗ trợ của dân quân xã, bản Nong La đã tổ chức đào lại mó nước thuở xa xưa. Vết tích của hiện tượng lấp thì vẫn còn, họ tìm thấy những mảnh gỗ mục và than lẫn lộn ở rất sâu. Nhưng nước thì không thấy đâu, các cụ bảo có thể họ đã ngăn nước từ hang bên Chờ Lồng Mường Ái( ). Tuy vậy, mó nước này vẫn chảy đều, trong và mát quanh năm, vẫn đủ sinh hoạt cho cả vùng (Nong La, Bản Híp, Co Pục, Phiêng Pát…), nhưng không chảy thành con suối như thời xưa truyền lại. Vết tích của dòng suối xưa kia đến nay vẫn còn. Dọc theo con suối cạn (mùa mưa mới có nước) còn có địa danh Ta Tạo và Ta Nàng (bến nước Tạo – công tử và bến nước Nàng – tiểu thư). Khi còn nhỏ người viết bài này vẫn còn thấy đáy dòng suối cạn có rất nhiều đá tảng, đá cuội như lòng nhiều con suối có nước khác. Hai bên suối là vùng phiêng bãi bằng phẳng có dấu tích của ruộng bỏ hoang và được gọi là Phiêng Nong La, phía trên phiêng bãi có một nơi vẫn được gọi là “phai co kẹ” mặc dù chẳng có cái phai nào ở đây. Có thể khi còn dòng suối, người ta đã đắp phai tại điểm này để lấy nước cung cấp cho khu ruộng đã bỏ hoang kia… Trong Quam tô mương Mường La cũng có ghi, từ năm 1845 (pi Hặp Xảư), phìa lớn Bun Quảng đã đích thân chỉ đạo khai hoang ruộng Cáy Chốc – Nong La cùng với việc đào ao Ứk Vai (có thể ao Da Vai ngày nay), sau đó 2 năm, 1847 (pi Mâng Một) mới đào ao Huổi Hin… Sau này, Cáy Chốk là nơi cúng tế hiến sinh của Mường La.
Sự tích của Nong La là cội nguồn của tên xã Chiềng La ngày trước. Năm 1968, vì trùng với xã Chiềng La của Thuận Châu, xã Chiềng La được đổi thành xã Chiềng Ngần cho đến ngày nay. Cái tên Chiềng Ngần đó cũng xuất phát từ tên của một cái ao huyền thoại – ao Nong Ngần.
Ngày xưa, đám ruộng “Xam Bỉa” bị một con trâu lạ, rất to đến ăn hết lúa. Thấy vậy chủ ruộng liền đến bắt lấy trâu định dắt về nhà để ai đến nhận trâu thì phải “khám na”( ) và đền số thóc bị thiệt hại. Nhưng ngay lúc đó, có một người lạ mặt đến nhận là chủ con trâu này và xin được lấy trâu về. Chủ ruộng không cho mà bắt chủ trâu phải đền thóc thì mới trả trâu. Chủ trâu lúc đó chỉ có ba lạng bạc, nên xin đền ba lạng bạc (nên đám ruộng mới có tên là Xam Bỉa, nghĩa là ba lạng). Chủ ruộng không nghe nên dắt trâu về nhà, buộc dưới gầm sàn. Đến nửa đêm, khi mọi người đã đi ngủ, bỗng nghe thấy giọng nói từ dưới gầm sàn: “Ta xin trâu nhé, sáng sớm mai nhớ đến dọn bãi phân trong cái cối, trâu nó ị ra đấy rồi”. Sáng ra, chủ nhà xuống xem trâu thì không còn, nhìn vào cối thì thấy đầy bạc. Biết đây không phải là trâu thường, ông chủ nhà liền lần theo vết chân trâu. Đến ao to ở cuối cánh đồng thì thấy vết trâu tắm tại đó, và… nó cũng ị ra mấy đống bạc. Từ đó cái ao mới có tên là Nong Ngần (nghĩa là ao bạc) cho đến ngày nay. Lấy được bạc rồi, ông tiếp tục lần theo vết chân trâu, đến vách đá trên núi gần đó, ông thấy trâu bạc đang chui vào trong núi. Ông túm đuôi kéo nhưng không ăn thua, ông liền trở về gọi nhiều người đến kéo. Lúc đó đang có người Keo Chết ( ) đi qua, họ liền theo ông lên để lấy trâu bạc. Họ đã phải dùng đục, dùng búa để đục lấy con trâu đang dần chìm vào trong vách đá. Nhưng, đục đến đâu, trâu cũng chui sâu vào đến đó. Đục mãi, đục mãi đến khi thủng sang bên kia núi, khi thủng thì con trâu lại bay vút đi và biến mất vào không trung. Ngày nay, đứng ở vùng trung tâm xã nhìn lên vẫn thấy một vách đá dựng đứng ngay cạnh Nong Ngần, giữa vách đá là một cái hang to, trông rất giống hình con trâu. Hang này thông sang bên kia núi. Cái hang từ đó được gọi là Thẳm Quai (tức là hang trâu), núi đó cũng được gọi là Pom Thẳm Quai (tức núi hang trâu).
Đó là cội nguồn của tên xã Chiềng La (tên cũ) và Chiềng Ngần hiện nay. Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau đến với nơi sẽ xây dựng cơ quan hành chính của Thành phố tương lai. Từ ngoài đi vào, đến cửa ngõ của khu đô thị mới, sẽ gặp một ngọn núi mọc lên sát với một cái ao tương đối lớn. Ao đó có tên là ao Nong Tè, còn ngọn núi này có tên là Pom Pể Nàng (nghĩa là núi cõng nàng). Tại đỉnh núi này, ngày 26 tháng 6 năm 1966, ba dân quân xã Chiềng La là Quàng Văn Hỏi, Lù Văn Chung và Tòng Văn Sáng, trong phiên trực của mình đã dùng súng trường bắn rơi chiếc “thần sấm sét” (máy bay F105D) của Mỹ. Pom Pể Nàng có một bên là vách đá dựng đứng, còn bên kia là sườn đất thoai thoải hơn. Tương truyền rằng, ngày xưa lâu lắm rồi, tạo Cáy Chốk có một cô con gái xinh đẹp nổi tiếng khắp vùng. Bao nhiêu công tử khắp nhiều mường khác nhau đã đến xin cưới nàng làm vợ. Khi đó, nàng đã yêu một chàng trai dân thường ở cùng bản. Nàng đã từ chối tất cả các chàng trai đến hỏi nàng. Nhưng vẫn còn có hai công tử quyết tâm lấy nàng bằng được, bằng không họ sẽ gây chiến với tạo Cáy Chốk. Đứng trước tình cảnh đó, nàng đã phải tổ chức cuộc thi tài. Nếu ai thắng thì nàng sẽ làm vợ người đó. Mỗi chàng trai sẽ chọn một trong ba công việc sau: Một là dùng ba ống nước bằng “mạy ỏ” nấu chín một con trâu; hai là dùng cần câu để “câu” cạn ao Nong Tè; ba là cõng nàng lên ngọn núi cao với điều kiện hai khuỷu chân buộc 2 quả bí xanh, hai nách cắp hai cuộn lá dong lớn đồng thời sẽ đốt lửa đuổi theo sau. Ai hoàn thành công việc trước và được nàng chấp nhận sẽ là người thắng cuộc. Một chàng công tử nhận nấu thịt trâu, anh ta đã tìm cách đun không cho cạn nước, cuối cùng thì cũng nấu chín được cả con trâu, nhưng khi nàng đến kiểm tra thì vẫn còn miếng phổi chưa chín vì nó không chìm được trong nước. Chàng công tử thứ hai nhận “câu” cạn ao cũng rất cố gắng trổ tài và cũng làm cạn được nước trong ao, nhưng phía đầu ao vẫn còn một vũng nước nhỏ (ngày nay được gọi là Nong Tè Nọi), nàng không công nhận. Còn chàng trai cùng bản, phải nhận công việc nguy hiểm nhất, nhưng do có sự hỗ trợ của người yêu nên đã cõng nàng đến được đỉnh núi chót lọt. Bởi vì, trước khi bắt đầu cuộc thi, nàng đã gội đầu bằng nước ngâm gạo, cứ để ướt sũng mà cuốn lên đầu, vừa đi nàng vừa vắt nước “ngâm gạo” cho chàng uống. Do có sự tiếp sức của người yêu, chàng trai đã trở thành người thắng cuộc, và được cưới nàng làm vợ. Và đỉnh núi đó được mang tên Pom Pể Nàng từ khi đó ( ).
Qua Pom Pể Nàng là đến khu đô thị mới. Đây là một bãi đất rộng khá bằng phẳng với tên gọi là Phiêng Pát. Cái tên này đã có từ thuở rất xa xưa, từ thời Ải Lậc Cậc (ông khổng lồ) khai phá đất đai. Thời đó ông nuôi một con voi khổng lồ tại một vùng đất rộng, xung quanh có núi cao bao bọc. Ở giữa vùng đất này có một ngọn núi đá mọc lên giống như một cái cột, là chỗ để cho ông buộc voi. Nơi đó chính là Bản Púng ngày nay (púng là nơi chăn thả) và núi đá đó đến nay vẫn được gọi là Pon Lắc Chạng (nghĩa là núi cọc voi). Thế rồi con voi ông bị ốm đột ngột, nên ông phải làm thịt ăn. Ông đem voi ra bãi đất rộng này để mổ nên mới có tên gọi nơi này là Phiêng Pát (pát có nghĩa là mổ). Dạ dày của voi, ông đem vứt vào cạnh nơi nuôi voi. Chỗ đó gọi là bản Pum Luông (nghĩa là dạ dày), nay gọi chệch đi thành Bôm Luông hay ghép với bản Púng thành Púng Luông. Khi nấu nướng xong, ông đã vứt cây kẹp nướng (híp pỉnh) sang bên cạnh, chỗ đó là Bản Híp ngày nay.
Trên đây là gốc tích của một vài địa danh trong hàng trăm địa danh của Chiềng Ngần. Trong tương lai, khi đô thị phát triển, bộ mặt của vùng đất này sẽ đổi thay, địa danh hành chính cũng sẽ được sắp xếp lại. Hy vọng rằng những địa danh đã lưu truyền qua nhiều thế hệ sẽ không bị mất đi mà sẽ tồn tại mãi mãi cùng với nét đẹp văn hoá cổ truyền của dân tộc.