Thế là đã hơn sáu năm ròng rã, Bun mới có dịp trở về quê hương. Ngồi cùng đại tá, chủ nhiệm Ban Chính trị sư đoàn, trên chiếc xe U-oát lướt trên Quốc lộ 6 quanh co heo hút, đồi núi trập trùng, đây đó những bông hoa ban rập rờn như muôn cánh bướm. Lúc này Bun mới có dịp nghĩ về ông, người thủ trưởng và cũng là cha nuôi của mình mà anh vô cùng yêu quí và kính trọng.
Năm 1969, khi tốt nghiệp cấp 2 trường Thanh niên dân tộc huyện, Bun xung phong đi bộ đội. Sau khi huấn luyện gấp rút, anh được phân công về làm nhân viên chính trị của trung đoàn. Chủ nhiệm phòng Chính trị lúc đó là ông Hôm đã nhận anh về, khi biết anh là con của liệt sĩ chống Pháp. Ông Hôm lầm lì, ít nói, vẻ mặt lúc nào cũng buồn bã, đăm chiêu nhưng công việc thì đâu ra đấy, nghiêm khắc mà tình cảm. Được ông nhận làm con nuôi, nhưng anh không hề biết gia cảnh ông ra sao. Mỗi lần anh gợi hỏi thì ông chỉ nói: “Chuyện dài lắm, bố sẽ kể cho con nghe vào dịp thuận tiện…” rồi ông lảng sang chuyện khác. Anh tò mò nhưng đành im lặng và chờ đợi.
Hôm nay, sau khi giải phóng hoàn toàn niềm Nam được mấy tháng, nhân dịp được về họp ở Hà Nội, hai cha con tranh thủ về quê sau bao năm xa cách, Bun mạnh dạn hỏi ông về gia đình. Ông quay lại trả lời: “Được, bây giờ bố mới có dịp kể lại cho con nghe”.
Ông Hôm là người Mường La (nay là Thị xã Sơn La), tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1943, khi anh mới 18 tuổi. Anh là một trong những người sáng lập “Mú nóm chất mương” – Thanh niên cứu quốc, một tổ chức cách mạng đầu tiên của Sơn La do một số người người Thái trẻ tuổi đứng lên thành lập. Trong chiến dịch Tây Bắc ông được phân công lãnh đạo phong trào cách mạng ở Quỳnh Nhai. Lúc đó Hôm là một thầy giáo dạy chữ bí mật lãnh đạo tổ chức cách mạng tại cơ sở. Có một cô gái Thái xinh đẹp, rất dịu dàng đã cảm phục công việc của anh đã giúp đỡ, chăm sóc và thương yêu anh. Anh biết tình cảm trong sáng và mặn nồng của cô gái dành cho mình nhưng cuộc chiến tranh không còn biết đến bao giờ, ông không dấu suy nghĩ của mình:
– Anh biết em yêu thương anh thật lòng, anh cũng rất mến em nhưng cuộc chiến tranh có thể lâu dài và vô cùng gian khổ, không thể lường trước những gì sẽ đến em ạ…
Không để anh nói hết, cô gái khẳng định:
– Em cũng biết thế nhưng em yêu anh, kính trọng anh, dù gian khổ đến đâu em cũng chịu được.
Rồi họ thành vợ thành chồng và có với nhau một đứa con gái kháu khỉnh. Có lần chị tâm sự với anh:
– Chúng mình gắng nuôi dạy con nên người, Em hy vọng cuộc sống của con sẽ khá hơn, sẽ được sống trong hòa bình, hạnh phúc.
Nhưng rồi không may anh bị lộ, một toán lính đã bất ngờ đến tìm bắt anh. Anh phải trốn vào rừng và tiếp tục lãnh đạo tổ chức chiến dịch. Bọn chúng đã hèn hạ bắt và tra tấn cực hình vợ anh, nhưng chị vẫn không khai chỗ ở của anh. Cuối cùng chúng giết chết vợ anh và bắt đứa con anh chưa đầy 2 tuổi xuống thuyền xuôi theo dòng sông Đà về đồn Mường Sại, chúng tin anh sẽ phải đầu hàng để cứu đứa con yêu của mình. Vừa đi, chúng vừa dùng loa gọi Hôm ra đầu hàng và nhận con… Hôm đã biết hết tất cả, từ việc chúng tra tấn và giết vợ anh đến khi chúng bắt con gái anh đi. Lòng như lửa đốt, có lúc anh đã định xông ra liều mình cứu vợ, cứu con nhưng đằng sau anh là cả phong trào cách mạng của Quỳnh Nhai, là bao nhân mối do anh gây dựng nên. Ngày mở chiến dịch cả vùng Tây Bắc đã đến gần, nếu anh bị giặc bắt thì chiến dịch có thể sẽ không thực hiện được kế hoạch trên giao. Anh đã chạy xuyên rừng dọc bờ sông theo chiếc thuyền lính đến khi nó mất hút, mặc cho bàn chân tứa máu… Anh nhờ người xuống dò hỏi cháu bé, nhưng họ đã đem đến cho anh thêm một tin sét đánh nữa. Khi chiếc thuyền đến bản Pá Củ thì chúng để thuyền và cháu bé ở bến sông, cùng với một tên lính canh gác. Còn cả bọn chúng thì vào trong bản bắt gà vịt của dân đánh chén no say. Tên lính trông thuyền đã sơ xuất để cháu bé rơi xuống nước. Khi quay ra thấy tên lính đang ngụp lặn tìm kiếm thì tên toán trưởng đã bắn chết tên lính gác kia vì đã để mất cháu bé, cái mồi dùng để dụ hàng anh ngay tại chỗ và tiếp tục xuôi dòng về đồn…
Vài hôm sau, đến ngày mở chiến dịch, anh đã lãnh đạo phong trào của địa phương đứng lên cướp chính quyền tại Quỳnh Nhai thắng lợi và cùng đoàn quân “Tây tiến” tiến lên tham gia giải phóng Điện Biên phủ… Sau khi hoà bình lập lại, ông về quê thăm gia đình thì anh em, chú bác ruột đều đã bị giặc giết hại, không còn ai thân thích…
Sau đó ông được điều vào hoạt động tại vùng mặt trận Quảng Trị, với chức vụ là Chính trị viên đại đội, rồi Chính trị viên Tiểu đoàn. Khi anh làm Chủ nhiệm Ban Chính trị Trung đoàn thì cũng là lúc Bun đến. Biết Bun là người đồng hương Sơn La, có trình độ văn hoá, ông đã nhận anh vào làm nhân viên chính trị. Khi ông được chuyển lên Sư đoàn thì ông cũng cho Bun đi theo làm trợ lý. Ông nhận Bun làm con nuôi, nhưng chưa hề cho Bun biết về gia đình mình, mặc dù ông đã tìm hiểu khá kỹ về anh…
Bây giờ Bun mới biết bố nuôi mình là người Mường La và đã có quê hương thứ hai ở Quỳnh Nhai. Hôm nay anh mới có dịp trở lại thăm quê sau hơn hai mươi năm xa cách.
Xe rẽ vào đường Quỳnh Nhai, đến Tông Cọ thì Bun xuống. Ông Hôm hẹn với Bun là ngày trở lại sẽ vào nhà thăm gia đình anh. Đường vào nhà Bun còn hai cây số nữa, ô tô cũng vào đến bản được, nhưng Bun thích đi bộ để ngắm nhìn lại bản mình sau sáu năm xa cách. Nhìn lại bản cũ mình, anh bỗng nhớ lại những ngày còn thơ ấu đi chơi với bạn bè. Anh chơi thân nhất với Lả, ít hơn anh hai tuổi, người cùng bản nhưng là người Laha. Nghe nói, năm 1954 bố mẹ Lả mới chuyển về đây ở cùng với người Thái. Hồi đó Lả còn chưa đầy hai tuổi. Hai anh em học chung một lớp từ lớp 1 đến lớp 4 ở xã. Lả tuy bé nhất nhưng lại học khá nhất lớp, Bun thì lúc nào cũng đứng thứ hai sau Lả.
Năm 1966, Bun và Lả được xã cho đi học ở trường Thanh niên dân tộc huyện. Vì hai người vừa học khá nhất vừa đúng thành phần ưu tiên. Bun là con liệt sĩ, Lả là người Laha. Trong quá trình học, đôi bạn thân thiết nhau, giúp đỡ nhau học tập và rồi họ yêu nhau. Sau khi tốt nghiệp cấp II, theo tiếng gọi của đất nước, tuy là con duy nhất của liệt sĩ nhưng Bun vẫn xung phong vào bộ đội. Nay anh đã là thiếu uý, trợ lý chính trị cho chủ nhiệm Phòng Chính trị Sư đoàn.
Còn Lả, mặc dù học giỏi nhất lớp nhưng vì hoàn cảnh gia đình, bố mẹ già, Lả là con duy nhất nên cô đã về nhà để chăm sóc cho bố mẹ. Cô về nhà được Đoàn thanh niên bầu làm bí thư Chi đoàn. Cô đã tuyên truyền phổ biến cho đoàn viên trong Chi đoàn những hiểu biết những tiến bộ mà cô đã được học và được biết khi cô đi học trên huyện. Cô tổ chức cho Chi đoàn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Cô xin hợp tác xã cấp cho Chi đoàn một khu ruộng để làm mô hình thí điểm kỹ thuật mới, rồi sẽ nhân ra cho các đội sản xuất. Việc làm của cô đã gây mâu thuẫn sâu sắc giữa cô và ông Pản – chủ nhiệm hợp tác xã. Ông Pản là một người có lối sống điềm đạm, được mọi người quý trọng. Hơn nữa ông là người có nhiều kinh nghiệm nhất trong sản xuất trên nương cũng như dưới ruộng. Vì vậy, khi thành lập hợp tác xã, ông được bầu làm chủ nhiệm nhiều khoá liền. Ông đã lãnh đạo hợp tác xã trở thành đơn vị đứng đầu của xã. Giờ đây, cô bé người Laha, chỉ biết đi học mà muốn thay đổi cách làm của ông. Cô đã đi vận động thanh niên trồng giống lúa thấp cây, cấy thẳng hàng với mật độ dày, rồi còn vận động thanh niên chặt cây cỏ ủ xuống ruộng… Toàn những điều ông chưa hề nghĩ đến. Ông đã phản đối kịch liệt việc làm đó và không cấp đất cho Chi đoàn. Nhưng không được cấp đất, Lả vẫn làm tại ruộng năm phần trăm nhà mình và vận động một số thanh niên cùng làm theo. Đến mùa thu hoạch, lúa ở ruộng Lả và những đoàn viên làm theo Lả đạt năng suất rất cao. Khi đó ông Pản mới vỡ lẽ, hoá ra mình hiểu không đúng về nó, đúng là có học có khác… Cuối năm ông đề nghị với Ban quản trị và xã viên bầu Lả vào Ban quản trị và trực tiếp làm Phó chủ nhiệm hợp tác xã. Với cương vị mới, cô đã bàn với ông Pản thành lập đội kỹ thuật, lên huyện tập huấn và về phổ biến cho dân. Cách làm mới này đã đem lại cho xã viên và hợp tác xã những thành quả cao hơn hẳn trước đây. Bà con xã viên đã tin tưởng ở Lả và đội kỹ thuật…
Ngày Bun về lại đúng ngày tổng kết hợp tác xã. Cả bản đang chuẩn bị ăn mừng một vụ thu hoạch thắng lợi. Theo gợi ý của ông Pản, Lả vừa được xã viên tín nhiệm bầu làm chủ nhiệm hợp tác xã… Đi qua hội trường Bun thấy mọi người đang vỗ tay cổ vũ ông Pản và Lả khai trương chum rượu cần mở đầu cho cuộc vui…
Sáu năm xa cách mới gặp lại nhau, đến bên Bun, Lả không thể cưỡng lại tình cảm của mình được. Cô ôm chầm lấy Bun, gục mặt vào ngực anh mà khóc như một đứa trẻ. Không hiểu cô khóc vì buồn hay vui nữa. Bun cũng ôm chặt lấy Lả vào lòng dịu dàng vuốt lên mái tóc rồi hôn lên mái tóc cô. Cứ như vậy thật lâu, không ai nói câu nào. Mãi sau, như chợt bừng tỉnh, cô đứng dịch ra và ngượng ngùng trách yêu: “Sao anh đi lâu thế, làm em nhớ anh nhiều quá”. Rồi hai người đi bên nhau, kể cho nhau nghe những sự việc diễn ra trong những ngày xa cách…
Bun và Lả đã thống nhất sẽ làm bữa cơm thân mật giữa hai gia đình và được hai bên gia đình nhất trí. Ngày mai là ngày ông Hôm hẹn đến thăm gia đình nên Bun sẽ tổ chức bữa cơm và giới thiệu bố nuôi của anh luôn. Tối nay, Bun và Lả chuẩn bị mọi thứ cần thiết để sáng mai nấu nướng cho nhanh. Khi xong công việc, bố mẹ Lả gọi hai đứa đến để trao đổi công việc. Khi mọi người đã quây quần bên bếp lửa, ông nói với vẻ rất trịnh trọng:
– Bây giờ các con đã trưởng thành, bố sẽ nói hết cho các con biết những điều mà bấy lâu nay bố mẹ vẫn dấu kín. Thực ra, cái Lả không phải là con của bố mẹ sinh ra. Bố mẹ lấy nhau đã lâu năm nhưng không sinh được mụn con nào. Ngày trước, bố mẹ sống ở bản Pá Củ. Thế rồi, một buổi chiều năm 1954, bố mẹ đi làm về, thấy chiếc thuyền máy của lính Pháp đỗ tại bến sông. Một anh lính bế một đứa trẻ vẫy tay gọi bố mẹ đến rồi trao đứa bé cho bố và bảo bố hãy đem đứa bé trốn đi. Bố trao đứa trẻ cho mẹ bế về nhà, còn bố nấp gần bến để xem sự tình ra sao. Một lúc sau thấy một toán lính trong bản đi ra, anh lính vội nhảy xuống sông lặn ngụp giả vờ tìm kiếm gì đó rồi nói với toán trưởng là đứa trẻ bò ra ngoài và rơi xuống sông rồi, tìm không thấy. Tên toán trưởng rút súng và bắn chết anh lính rồi đi luôn, để mặc xác anh chìm xuống ở bến sông nọ. Thấy vậy bố đã kéo xác anh lính bí mật đem đi chôn cất chu đáo. Sáng hôm sau, bố mẹ vội vàng bế đứa bé bỏ nhà đi và đến đây sinh sống. Bố mẹ đã dấu kín chuyện này không cho ai biết và cũng không dò hỏi xem đứa bé là con ai. Đứa bé đó chính là cái Lả của bố mẹ đây.
Bun và Lả đều ngớ người ra, một câu chuyện quá bất ngờ với hai người, không biết là thật hay chỉ là giấc mơ nữa. Nhưng rồi Bun bỗng reo lên:
– Bố ơi, mẹ ơi, em Lả ơi! Thủ trưởng con, bố nuôi của con chính là bố đẻ của Lả. Ngày mai, ông ấy sẽ đến đây.