Anh Hạc đứng thứ ba từ trái sang phải

Là người thích tìm hiểu và nghiên cứu về người Thái, tôi thường tìm kiếm các thông tin trên mạng Internet. Thông tin mà tôi tìm được phần lớn là của tác giả Vân Hạc. Cái tên Vân Hạc đã gây ấn tương trong tôi, làm tôi cứ hình dung về con người này. Phải chăng ông là người Thái nên mới am hiểu sâu sắc về nhiều lĩnh vực của văn hoá Thái như vậy. Ồ, có thể lắm, cái tên Vân Hạc ấy cũng có vẻ giống tên Văn Hặc người Thái (người Thái hay dùng đệm là Văn, còn tên Hặc nghĩa là yêu, quý).

Cho đến tháng Ba năm 2008, trong một lần Hội thảo về chữ Thái tại Điện Biên, tôi mới gặp được Vân Hặc. Hoá ra anh là người dân tộc Kinh, quê ở Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ. Anh vốn là một người lính, đóng quân trên vùng dân tộc. Ngay từ ngày ấy, đi đến đâu, anh đều say mê nghiên cứu, khám phá về văn hóa dân gian của các dân tộc. Ra quân, ông đã sống và dạy học ở Tây Bắc trên 30 năm, chủ yếu ở vùng dân tộc Thái. Chính quãng thời gian này đã chắp cánh cho anh bay cao hơn trong công việc khám phá văn hoá Thái của mình. Hơn 30 năm “cùng ăn, cùng ở, cùng xòe…”, chất văn hóa dân gian của người Thái Tây Bắc đã ăn sâu vào máu thịt của anh, âm thầm nuôi trong anh ngọn lửa vùng cao âm ỉ cháy. Anh am tường tiếng Thái, am tường phong tục tập quán của người Thái… đến nỗi nhiều người cũng giống như tôi, cứ tưởng anh là người Thái.

Anh đã cùng nghệ nhân Lò Văn Biến ở thị xã Nghĩa Lộ, biên soạn thành công “Bộ tài liệu dạy tiếng và chữ Thái cổ Mường Lò” cho Bộ Nội vụ dùng làm chương trình khung cho 7 tỉnh có đông người Thái chỉnh sửa cho phù hợp với địa phương, dạy cho cán bộ viên chức đang công tác ở vùng dân tộc miền núi. Anh đã giúp giáo sư Lê Trọng Khánh hoàn chỉnh cuốn “Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình khoa đẩu”. Anh cũng cùng nghệ nhân Lò Văn Biến chuyển ngữ tác phẩm “Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng” (Căm Hánh tặp sấc cớ lương) giúp huyện Văn Chấn (tỉnh Yên Bái) hoàn thiện hồ sơ công nhận di tích lịch sử thành cổ Viềng Công (Hạnh Sơn – Văn Chấn – Yên Bái) được các nhà nghiên cứu và cộng đồng dân tộc Thái đánh giá cao.

Được biết, chỉ trong 10 năm gần đây, anh đã có tới hơn 400 bài báo và tác phẩm văn học nghệ thuật in trên báo Trung ương và địa phương. Trong những bài viết đó, phần lớn là dành cho người Thái. Từ những câu hát dân gian, những điệu xoè dân vũ đến khúc ca hùng tráng; từ những phong tục tập quán truyền thống đến những trò chơi dân gian; từ những nét hoạ tiết mộc mạc cho đến những món ẩm thực cổ truyền… lĩnh vực nào cũng có bài viết của anh.

Ngoài ra, anh còn làm rất nhiều bài thơ về người Thái như “Gọi mùa ban nở”, “Cô gái Mường Lò”, “Bình minh Tây Bắc”, “Phiên chợ vùng cao”, “Rượu Mường Lò”, “Chợ tình Khau Vai”, “Áo cỏm em” v.v…

Ngay từ lần gặp đầu tiên, tôi đã được nghe anh nói: Trước hết, anh nhận thấy dân tộc Thái có một nền văn hóa văn minh và văn hiến, được bảo tồn và phát triển qua bề dày của lịch sử. Điều đó được thể hiện qua các tác phẩm văn học như “Sống chụ son xao” (Tiễn dặn người yêu); “Khun lú nang ủa” (Chàng Lú nàng Ủa); “Quam tố mương” (Chuyện bản mường)… các điệu xòe nồng say, điệu khắp trữ tình trong những cuộc vui, buồn của gia đình, dòng tộc và cộng đồng… Sự may mắn nhất đối với anh đó là được sống, được đắm mình trong không gian văn hóa đa màu sắc ấy, đã thấm đậm vào anh từ lúc nào… cũng từ đó đã khơi nguồn cảm xúc để anh đam mê tìm hiểu văn hóa Thái. Và chính vì đã được tìm hiểu khá sâu về nền văn hóa Thái, khâm phục và yêu những tinh hoa của nền văn hóa Thái, nên mỗi bài viết, anh đều thể hiện những nét đẹp của nền văn hóa độc đáo ấy.

Nay dù anh đã về sống ở Hà Nội nhưng hy vọng rằng những bài viết của anh về người Thái sẽ không bị ngừng trệ, sự cống hiến cho nền văn hoá Thái của anh sẽ vẫn còn mãi mãi vươn xa và bay cao.

Cà Chung