Ngày xưa có ông phìa Căm Cong kết duyên cùng bà lớn Nàng Dăm. Ông có quyền cao, phú quý khốn nỗi mãi không có con nối nghiệp. Ông cầu trời khấn phật mãi mới sinh được một con gái đặt tên là Ăm Ca. Ông ao ước có thêm con trai nhưng không được, ông lấy thêm vợ cũng chẳng sinh thêm được đứa con nào. Tuy vậy, nàng Ăm Ca càng lớn càng xinh đẹp, giỏi giang hơn người. Bao nhiêu chàng trai đều khao khát lấy nàng nhưng không được. Cả các chàng công tử quý tộc các mường lân cận cũng đến cầu hôn nhưng nàng đều từ chối. Bởi nàng đã xem sổ tử vi về số mệnh của mình sẽ chỉ lấy được một anh chàng nghèo khó.
Thời đó có chàng trai Tòng Đón, mồ côi cha từ nhỏ, phải chịu cảnh nghèo khó đến cùng cực. Hàng ngày chàng ra suối Pàn đánh bắt cá để kiếm sống. Bù lại, chàng được một thân hình khôi ngô tuấn tú không ai sánh bằng. Bao nhiêu cô gái ao ước được làm vợ chàng bất chấp cuộc sống nghèo hèn. Nhưng chàng chưa suy nghĩ đến chuyện xây dựng gia đình. Một đêm, chàng mơ thấy một ông lão tóc bạc phơ đến nói với chàng rằng: Chàng đã được ông trời sắp đặt, sẽ có người vợ quyền quý cao sang. Muốn biết người vợ, sáng mai hãy ra bờ suối sẽ được gặp. Sáng hôm sau, chàng ra ngồi câu cá tại bụi cây cạnh đường để chờ nàng đi qua.
Cũng đêm hôm đó, Ăm Ca mơ thấy ông bụt mách bảo, nàng đi ra hướng đông, đến bờ suối sẽ gặp người chồng tương lai. Sáng ra, nàng xin cha đi dạo chơi bên suối Pàn. Ông phìa đồng ý và bố trí ngựa và các nữ hầu đi cùng. Trên đường đi, chim kêu, vượn hót véo von chào đón. Nàng ngồi trên lưng ngựa, đi hết núi này qua đồi khác mới đến được suối Pàn. Nàng bảo các cô gái cất lên tiếng hát vang vọng núi rừng. Chàng Tong Đón nghe thấy quên cả câu cá, nhìn sang thấy cả đoàn thiếu nữ đi qua. Thấy Ăm Ca dáng hình xinh đẹp, ăn mặc giầu sang, chàng lại nghĩ đến mình, người nghèo hèn liệu có xứng đôi được không. Ăm Ca cũng đã nhìn thấy chàng trai đang ngồi dưới bụi cây câu cá. Mới thấy chàng, nàng đã rất xúc động, một chàng trai cao to, trắng trẻo đầy hấp dẫn. Nhưng chàng lại ăn mặc rách rưới, quần áo vá chằng vá đụp. Rồi nàng tiếp tục đi lên phía thượng nguồn, ngắm rừng núi, ruộng đồng, làng bản… Chiều tối, nàng vào nghỉ trong một bản và được dân tiếp đón nhiệt tình. Hôm sau nàng chia tay dân bản đi tiếp, gặp nhiều cây muỗm, cây trai, nàng vặt mấy quả ăn. Đến trưa đói bụng, nàng cho chặt cây “mạy ỏ” rải xuống ngồi nghỉ ăn trưa. Nàng đã đặt tên cho vùng này là Ỏ Muông Kêm Ke. Nàng đi qua một vùng có thành luỹ cao – thành luỹ của người bản địa để chống lại đoàn quân Ta Ngần, nàng đặt tên cho chỗ này là Phiêng Đôn (Lôn). Đến nơi quân Ta Ngân xua đuổi người bản địa, nàng đặt tên Tông Lay Nà Ban. Nàng lại tiếp tục đi. Đến một mó nước trong, nàng khát nước, mới sai người lấy nước cho nàng uống. Uống xong nàng đặt tên cho mó nước này là Bó Ma. Cuối cùng nàng đã trở lại Lắc Chạng Viêng Giảng thông thoáng, tâu trình với cha mẹ, nàng đi qua nhiều nơi như thế là để mở mang tầm nhìn. Cha mẹ nàng mừng vui phấn khởi, rằng trời đã ban cho nàng bổn phận để lo cho dân cho mường.

Nàng lên phòng nghỉ ngơi, nhưng không sao chập mắt được. Trong lòng chỉ nghĩ tới chàng Đón thân thương. Nàng chập mắt đi thì giấc mơ lại hiện đến. Nàng mơ rằng nàng đã được sống bên chàng cùng lo toan công việc.
Còn chàng Tong Đón, từ khi nhìn thấy nàng, chàng nhớ nhung vô hạn. Chàng thường nằm mơ đã được cha mẹ nàng cho làm con rể. Sau vài ngày mưa, trời tạnh ráo, chàng lấy chiếc nỏ cùng tên đeo lên người đi vào trong chân núi Đao.
Lúc đó, nàng Ăm Ca cũng mơ một giấc mơ rằng, sau tạnh mưa hãy vào núi Đao hái Măng. Nàng vội vã xin cha mẹ cùng các nữ hầu đi hái măng. Đến chân núi, nghe tiếng chặt cây, các cô hầu hỏi thì nghe tiếng trả lời là đang chặt làm lối đi thăm bẫy. Ăm Ca tiến đến gần chàng, nhìn kỹ khiến chàng ngượng nghịu và run sợ. Nhưng nàng đã nhẹ nhàng gọi chàng và chàng đã quay lại. Hai người gặp nhau, hỏi thăm nhau về gia đình, hoàn cảnh. Chàng tỏ ra ngại ngùng khi tiếp xúc với một người không tương xứng. Nhưng nàng đã khẳng định trời đã ban cho hai người thành vợ thành chồng và mời chàng đến ra mắt bố mẹ, không phải lo lắng gì. Hai người đã ôm lấy nhau, quấn quýt bên nhau như để thoả nỗi nhớ nhung trong suốt quãng thời gian dài. Rồi chàng xin phép về với mẹ, thưa chuyện với mẹ và sẽ cho mẹ đến thăm gia đình nàng. Nhưng nàng đã cương quyết cho chàng về cùng, việc thưa chuyện với mẹ chàng sẽ có người hầu lo. Thế là chàng đã cùng nàng về Viêng Giảng để ra mắt cha mẹ nàng. Hai người đã cúi lạy trước cha mẹ để xin được kết duyên cùng nhau. Cha mẹ nàng cùng bà con cô bác đề đồng ý cho hai người thành vợ thành chồng. Quan quân trong phủ đều đến chúc mừng Ăm Ca đã có gia đình, chúc mừng người sẽ thay cha lo việc nước việc dân.
Còn bà mẹ Tong Đón, đang sốt ruột chờ con. Trời đã về chiều mà không thấy Đón về bà lo lắng sợ chàng làm sao. Bỗng có một đoàn người đến hỏi thăm nhà chàng Đón, bà nói chính là mẹ của chàng. Mọi người cúi chào bà và nói với bà là chàng Đón đã lên Viêng làm con rể phìa lớn, mời bà đến đó ở cùng chàng và con dâu. Bà cùng đoàn người đi lên Viêng và được ông phìa tiếp đón và cô con dâu chăm sóc chu đáo. Cuộc đời đã thay đổi đột ngột khiến bà không hiểu là thật hay mơ nữa.
Nàng thấy cánh đồng, đất đai của mường còn chật hẹp, cần phải mở mang thêm. Nàng xin phép phìa cha cho hai vợ chồng đi khai phá đất đai ở vùng suối Pàn. Phìa cha dù không muốn cũng phải bằng lòng và cử nhiều người giúp việc cùng đi. Đến Băng Môn của suối Pàn, nàng cho xây dựng lán trại. Sau đó họ khai hoang những vùng đất bằng thành ruộng trồng lúa. Nhưng đến mùa khô, nước khô cạn không đủ tưới cho cánh đồng. Chàng mới đi xem bói và biết có một con thuồng luồng ngự trị tại vực nước lớn Băng Uông này, muốn có đủ nước phải có lễ tế trâu cho “vua”. Chàng mới đi kiếm được trâu đẹp, thầy thiêng đến hiến tế cho vua thuồng luồng Băng Uông. Chàng nằm mơ thấy thuồng luồng biến thành người đến bảo chàng hãy đến chọn chỗ để đắp phai và đánh dấu vào đó. Hôm sau chàng đến chọn nơi sẽ đắp phai và lấy cây cắm để đánh dấu. Tối đến, trời bỗng mưa to gió lớn, sấm chớp ầm ầm, nghe như núi đá to bên suối bị đổ sập, mặt đất rung lên khiến cho mọi người run sợ thót tim, liền kêu trời kêu đất. Sáng ra, trời lại tạnh ráo, nhìn sang núi đá vẫn còn nguyên. Chàng mới ra nơi sẽ đắp phai, thì thấy thật kỳ lạ. Vô số hòn đá đã được xếp đầy chỗ chàng đánh dấu, nhưng vẫn chưa kín hết. Sau này chàng biết rằng, thuồng luồng đã định giúp chàng đắp xong phai, nhưng nhiều người kêu trời kêu đất khiến chàng phật ý bỏ đi để lại công trình dang dở. Chàng thấy tiếc nuối và cho người đi tìm trâu và mời thầy cao tay đến cầu khấn tiếp. Thuồng luồng đã nhắn lại rằng ý định đã bị vứt bỏ không lấy lại được nữa. Thế là chàng phải cho người đi chặt cây để bịt lại những chỗ chưa kín, đào đắp hệ thống mương máng để có nước tưới cho cánh đồng. Từ đó cánh đồng trở nên tốt tươi, trù phú. Để đáp ơn cho ông thầy mo đã có công cầu khấn, phìa Đón đã cho ông mo chọn một số vực nước có lúc dâng, lúc cạn để hàng năm nhân dân có thể đánh cá được.
Hai vợ chồng Tong Đón Ăm Ca vẫn thấy cần mở mang thêm ruộng đất. Họ đến chỗ chân núi và gọi là Chiềng Xôm với ý nghĩa là vùng đất hài lòng. Nhưng chỗ này đất không bằng phẳng, xan ruộng thì vướng sỏi, đào mương thì vướng đá. Phìa lại mổ trâu cúng tế vua thuồng luông Băng Uông. Rồi lại một đêm mưa to gió lớn nữa ập đến, tiếng sấm sét, tiếng núi lở đá lăn inh tai nhức óc. Sáng ra, chỗ đất này trở nên bằng phẳng, có dòng nước chảy đến khắp cánh đồng. Hai vợ chồng và dân tình vui mừng phấn khởi, cùng nhau khai phá, mở mang ruộng đồng tốt tươi. Nhưng rồi họ lại thấy thiếu ao vừa để thả cá lại vừa cho đủ bộ quang cảnh của một khu trung tâm đất mường. Thuồng luồng biết tin lại tìm cách giúp đỡ, liền cho đàn em biến thành con hoẵng trắng đi lên vùng Chiềng On. Dân Chiềng On nhìn thấy liền bắt làm thịt mổ ăn. Cả bản đều ăn hết chỉ có hai mẹ con bà goá không ở nhà, cũng được dân bản đem thịt đến cho, treo cửa sổ. Vua thuồng luông biết tin tức giận, cho quân đến tiêu diệt tất cả ai đã ăn thịt hoẵng. Tối đến, có một chàng trai bản khác đến chơi gái, khi đến bản, thấy rất nhiều cây gỗ ngổn ngang đầy khắp bản. Khi lên nhà hỏi cô gái ai chuẩn bị làm nhà nhiều cột xà đến thế. Cô gái ngạc nhiên bảo làm gì có ai làm nhà đâu, hay anh nhìn nhầm. Vừa lúc đó, mưa to gió lớn ập đến, cả bản bị lún sâu xuống thành biển nước. Đôi trai gái nọ vội kéo nhau chạy, cô gái đến đâu thì đất chỗ đó cũng bị thụt xuống đến đó. Có một tiếng gọi vọng sang “hãy bỏ tay cô ấy ra, nếu không sẽ bị chết cả hai”, chàng trai liền thả tay ra, cô gái lập tức thụt xuống hố biến mất. Sáng hôm sau, cả bản trở thành một cái ao lớn, chỉ còn chỗ nhà hai mẹ con bà goá vẫn còn đó thành hòn đảo nhỏ. Vua thuồng luồng báo mộng cho phìa Đón, đó chính là ao thuồng luồng cho phìa. Phìa đặt tên cho ao là Nong Mòn và đi kiếm giống cá các nơi đến thả. Tháng bảy đến phìa cho đánh cá. Cả dân bản xung quanh đều đến bắt cá cùng cho vui. Phìa làm hai mâm cỗ cả cá, cả thịt để thờ cúng tổ tiên, vua thuồng luồng và các thần linh. Tổ chức cho dân mường ăn uống cộng đồng vui vẻ.
Đó là câu chuyện từ đời xưa truyền lại về Tong Đón – Ăm Ca khai phá đất Chiềng Xôm thành đất Mường Bằng ngày nay.