Tham luận tại Hội nghị toàn quốc Thái học Việt Nam

Tri thức dân gian hay còn gọi là tri thức bản địa là những hiểu biết của các thế hệ con người ở một vùng, một địa phương về những sự vật, hiện tượng hiện hữu xung quanh (bao gồm tự nhiên và xã hội) cùng những hiểu biết có được qua quá trình giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài. Những tri thức ấy được chắt lọc, lưu truyền dưới nhiều hình thức qua nhiều thế hệ làm hình thành nên những tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên thiên nhiên cùng các cung cách ứng xử đối với các tài nguyên đó nhằm thích ứng với môi trường tự nhiên và xã hội của con người.
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêu công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay !
Đất là một tài nguyên thiên nhiên hết sức quan trọng đối với đời sống của con người. Tri thức bản địa của nhiều dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Thái nói riêng đã phát huy tác dụng tốt trong việc quản lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên đất.
Nghiên cứu tri thức dân gian bảo vệ tài nguyên đất của dân tộc Thái sẽ góp phần cho việc quản lý và sử dụng đất tốt hơn, giữ được sự cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên. Đồng thời sẽ bảo tồn và phát huy được những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc Thái, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa đa dạng của đại dân tộc Việt Nam.

1. Vai trò của đất đối với đời sống của người Thái:
1.1. Đất gắn liền với lãnh thổ.
Tổ chức xã hội theo truyền thống Thái được mang tên là bản mường. Thuật ngữ này nếu tách đôi sẽ gồm hai đơn vị xã hội là bản và mường.
Bản là đơn vị tổ chức cư dân ổn định, có ranh giới đất đai rõ rệt, được hình thành trong lịch sử tộc người. Cộng đồng lãnh thổ như thế đã in hằn thành khái niệm trong ý thức hệ truyền thống nên mới có thuật ngữ biểu thị là “đìn bản” (đất bản).
Đìn bản bao gồm các vùng tự nhiên như sau:
– Phạm vi đất thung lũng được tưới và bồi đắp bởi phù sa sông suối, đủ điều kiện để khai phá thành ruộng lúa. Theo luật tục, đất ruộng đồng có đường ranh giới tự nhiên và minh bạch nên bất khả xâm phạm. Với ý nghĩa đó, chữ bản bao giờ cũng được người ta gắn với chữ nã (ruộng) để thành bản nã để chỉ chung các đơn vị cư dân này.
– Phạm vi núi rừng, đối tượng của việc làm nương rẫy, hái lượm, săn bắt và khai thác lâm thổ sản. Theo luật tục thì rừng ở khu vực người Thái được phân thành hai khu vực rõ rệt. Một là để giành cho việc trồng trọt. Và hai là để giành cho khu vực cấm. Trong khu vực cấm lại phân thành hai: giành để khai thác lâm sản và rừng thiêng phục vụ cho cuộc sống tâm linh.
– Phạm vi bản còn có đoạn sông, khúc suối, khe lạch. Trên những đoạn của dòng chảy sẽ có những những nơi gọi là “vẵng hảm” (vũng cấm). Cấm không được khai thác và đụng chạm gây ra những sóng động lớn làm ảnh hưởng đến độ bền vững của phai dâng nước đỏ vào mương tưới ruộng đồng. “Vẵng hảm” để thờ thần nước và mở hội đánh cá (phá pà vẵng hảm).
Mường là đơn vị xã hội cao hơn, nhưng nó cũng là đơn vị tổ chức xã hội dựa trên cộng đồng lãnh thổ, nên cũng có khái niệm truyền thống mang tên “đìn mưỡng” (đất mường). Điều đó đã sống trong tâm thức văn hoá Thái được thể hiện qua câu ca dao:
“Đìn mưỡng té chua đẳm
Đìn nặm té chua lãng” (Đất mường từ đời tổ
Đất nước từ đời xưa)
Mường là đơn vị hành chính cao hơn và do nhiều bản gộp lại. Nhưng mường lại chia làm nhiều cấp khác nhau.
– Mường lộng (hay gọi tắt là lộng), mường koen (gọi tắt là koen) là mường chỉ có một số bản gộp thành. Ví dụ như lộng Mường Ék (Thuận Châu), lộng Mường Pia (Mường La), lộng Mường Mờn (Mai Sơn).
– Mường phìa là mường lớn hơn, do hàng chục bản gộp thành. Ví dụ như Mường Bú, Mường Chùm, Mường Sại, Mường Piềng, Mường Chanh, Mường Bon… Mỗi một mường phìa được chia làm các “xổng” như: Xổng Pẵn, Xổng Pọng, Xông Hò Luồng, Xổng Koàn Kuồng.
– Mường chu (về sau gọi là châu mường) là mường do 5 – 6 mường phìa và mường lộng gộp lại, thường có hàng trăm bản. Ví dụ: Mường chu Mường La gồm 6 mường phìa (Mường La, Mường Bằng, Mường Bú, Mường Chùm, Mường Trai, Mường Chiến) và một lộng (Mường Pia) hợp thành; Mường chu Mường Muổi gồm 5 mường phìa (Mường Muổi, Mường Sại, Mường Piềng, Mường Lằm, Chiềng Pấc) và một lộng (Mường Ék) hợp thành; Mường chu Mường Muộk gồm 5 mường phìa (Mường Chanh, Mường Bon, Mường Hung, Chiềng Cang) và một lộng (Mường Mờn) hợp thành;
– Mường pua: Nhiều mường chu gộp lại có thể phát triển thành mường pua (mường vua) tức là một quốc gia như: Mường Lào, Mường Thay (Thái Lan)…
Dù là một đơn vị hành chính nào, mỗi bản, mỗi mường đều gắn liền với đất, có ranh giới rõ ràng do một chủ (tạo/quan, phìa, án nha, pua…) cai quản.

1.2. Đất là nơi cư trú, định cư của người Thái.
Hiện nay ở vùng Tây Bắc có trên 30 dân tộc cùng sinh sống nhưng chỉ có người Thái có lợi thế hơn cả trong việc làm ruộng nước. Không chỉ có vậy, người Thái còn vừa làm ruộng nước, vừa làm nương rẫy cho nên đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ổn định hơn các dân tộc khác. Do đã trải nghiệm trong tiến trình chọn đất ở và đất sản xuất cho nên người Thái đã khẳng định:
“Mĩ nặm kìn, chắng mĩ đìn dú”
(Nghĩa là có nước ăn, uống, thì đất nơi đó mới ở được)
Do vậy chúng ta thấy các bản mường của người Thái thường cư trú nơi “sơn chầu, thuỷ tụ”, đó là nơi vừa có đất lại sẵn nước, tạo nên cảnh quan bản làng trước mặt là ruộng, sau lưng là núi.
Người Thái coi đất là nơi để sinh sống của con người và loài vật. Con người sống được, ở được là nhờ có đất. Tục ngữ Thái có câu:
“Dú nẳng đìn, kìn nẳng nam”. (Ở với đất, ăn với bùn)
Con người sống phụ thuộc vào đất:
“Tài đìn phằng, nhẵng đìn liệng” (Chết đất chôn, sống đất nuôi),
“Kẵm khảu dú đìn, kẵm kìn dú pá” (Miếng cơm trong đất, miếng ăn trong rừng).
Người Thái định cư ở đâu đều phải có đất để ở, sinh hoạt, sản xuất và kiếm ăn (thịt, cá, rau, quả…).

1.3. Đất là nhu cầu cho sản xuất và mưu sinh của dân tộc.
Điều quan trọng nhất của văn hoá mưu sinh của người Thái là có đất để trồng lúa, trong đó có cả lúa nước và lúa cạn. Ngày xưa, người Thái (nhóm Thái trắng 2) từ lưu vực sông Hồng vào vào khai phá cánh đồng Quang Huy. Một bộ phận khác (nhóm Thái trắng 1) di cư xuống chiếm Mường Lay, Mường Xo, Mường Tè. Rồi đến bộ phận nhóm Thái đen 1 đến khai khẩn đất Mường Lò, và cụ Lạng Chượng đã mở mang đất Thái ra khắp vùng Tây Bắc. Chung quy lại, người Thái đã đi tìm đất có thể trồng lúa để mưu sinh.
Người Thái có tục lệ, hàng năm, sau khi việc đồng áng xong xuôi, chiếc cày để vỡ đất trồng lúa được đem cất dựa bên bức vách gian nhà được giành riêng cho thờ cúng tổ tiên mang tên “clọ hóng” để tưởng nhớ cha ông đã phải đổ mồ hôi trên đồng ruộng nơi ngọn nguồn sông Thao nước đỏ để có:
Đìn Mưỡng Ồm dú đì lài
Đìn Mưỡng Ài dú đì lắm
Mưỡng tàn khảu dệt bà
Mưỡng hốm phã nằng nỏng… (Đất Mường Ôm ở tốt lắm
Đất Mường Ai thật yên lành
Mường thu lúa từng bông bó cụm
Mường đắp chăn vỏ sui…)
Như vậy, việc khai khẩn vùng đất vốn hoang vu thành cánh đồng lúa trở thành nhu cầu hàng đầu của truyền thống kinh tế cổ truyền Thái.

1.4. Đất trong văn hoá tâm linh của dân tộc.
Theo quan niện của ng¬ười Thái, mọi vật đều có hồn, có chủ. Như¬ng vạn vật lại bảo vệ con ngư¬ời, cho nên con ngư¬ời phải tạ ơn vạn vật. Có như¬ vậy con người mới khỏe mạnh, bản m¬ường mới yên ổn, thiên nhiên thuận lợi, làm ăn được mùa đư¬ợc màng. Trong các chủ đó, có chủ đất (chảu đìn) là được mọi người quan tâm nhất. Chủ đất là các đấng thần linh làm chủ các khía cạnh của đất, cai quản và bảo vệ con ng¬ười làm ăn sinh sống. Nếu người Kinh có thần Thổ công, Thổ địa thì người Thái lại có rất nhiều vị thần để làm chủ đất như: Phì bản (ma bản), phì nã (ma ruộng), phì mưỡng (ma mường), phì lắc bản (ma cột bản), phì lắc mưỡng (ma cột mường), phì đìn (ma đất), phì tù tỉ (ma cửa vào), phì tù xửa (ma cửa ra), phì đồng cẵm (ma rừng kiêng), phì đồng kín (ma dưới đất), phì đồng xền (ma rừng cúng), phì pũ (ma núi), phì pá (ma rừng), phì pá heo (ma nghĩa địa), phì pá hòng (ma thây người)…
Hàng năm cứ vào các lễ hội như: xên bản, xên mường, cúng nhà… người ta đều cầu khấn các vị thần linh này cùng với nhiều thần linh cai quản khác phù hộ cho con người, bảo vệ cho bản mường. Trước khi xên bản, xên mường, người ta phải làm lễ đóng cột bản, cột mường, làm lễ đóng cửa bản, đóng cửa mường… là để xin phép các vị thần chủ đất cho họ được tổ chức, đồng thời nhờ các vị thần bảo vệ cho bản mường được yên vui, đóng cửa không cho ma quỷ đến quấy nhiễu.
Khi hình thành một bản mới, người đứng đầu (được gọi là chảu xửa) phải làm lễ với thổ công thổ địa, chôn một cây cọc ở một vùng đất thiêng nơi cửa ngõ của bản. Chỗ chôn cọc được gọi là “tu xửa”. Chiếc cọc đó được gọi là “lắc xửa” (hay lắc bản) và thường được dùng lõi của loại gỗ tốt. Những người kế tiếp người đứng đầu cũng đều phải chôn “lắc xửa”.
Người Thái kiêng dựng nhà trước các cửa khe vực. Họ cho đó là đường đi của của các loại ma, nếu dựng nhà tại đó sẽ bị ma làm hại, sẽ gặp thiên tai. Chính nhờ quan niệm đó mà người Thái dù ở ven sông, suối nhưng rất ít bị lũ quét cuốn trôi.
2. Các loại đất chính:
2.1. Đất ở.
Bản người Thái xưa nay thường ở ven chân núi, hầu như không ở giữa cánh đồng. Như vậy vừa tránh được gió bão, vừa nhường đất bằng cho làm ruộng. Các gia đình thường ở sát kề nhau, tập trung thành nơi chuyên để ở, tách hẳn nơi trồng trọt. Bản mường xinh đẹp ngày xưa của người Thái là bản liền kề với ruộng, nhà nhà san sát bên nhau:
Nã tó nã diễn bản
Bản tó bản kả kát diễn kằn. (Ruộng tiếp ruộng liền bản
Bản liền bản san sát bên nhau).
Trước đây người Thái chưa biết bón phân cho lúa và hoa màu, bản làng thường dựng trên mặt đất cao hơn ruộng, để nước mưa tự quét phân tro trôi xuống đồng cho lúa tốt (gọi là há bản). Những chân ruộng gần bản thường tốt hơn ruộng nơi xa chính vì lý do đó.
Ngày xưa, đất ở của người Thái khá ổn định. Việc di chuyển đến địa điểm ở mới rất phức tạp, khó thực hiện. Muốn đến nơi ở mới phải qua nhiều thủ tục về tín ngưỡng và tâm linh. Về điều này người Thái có các câu tục ngữ:
Pai dặc dặc pền phì
Nì dành dành pên khỏi. (Chuyển liên miên thành ma
Rời liên tục thành tôi tớ).
Tộc nhã pạk, dák nhã nì
Dú hảư pền bón, nõn hảư pền ti. (Khó không đi, khổ không chuyển
Ở phải có nơi, ngủ phải có chốn).
Đất ở của người Thái ngày xưa không phải của riêng ai, chỗ nào có thể dựng được nhà là mọi người đều có quyền chọn làm nơi ở. Nếu chuyển đi thì nhường cho người khác ở.

2.2. Đất ruộng.
Với lợi thế do thiên nhiên ban tặng nên rất thuận lợi cho việc phát triển cây lúa nước, vì thế người Thái đã truyền bảo nhau rằng: Đừng bỏ nghề làm ruộng nước để đi buôn bán, bởi vì:
“Kỗn xự tảư khài nừa, báu to kỗn háy phừa nã bản”
(Người đi buôn dưới bán trên, không bằng sức bền làm ruộng).
Vì vậy, những đất bằng phẳng, có thể làm được hệ thống nước tưới tiêu, người Thái thường giành cho làm ruộng.
Để có ruộng, đầu tiên cần có một hệ thống thuỷ lợi dẫn nước từ dòng chảy tự nhiên vào tưới cho cánh đồng lúa. Từ đó dòng nước thiên nhiên gắn chặt với các khâu của công trình thuỷ lợi truyền thống mà người Thái thường lấy mương làm tiêu biểu chung như hai câu mở đầu của sử thi Táy pú xớc ra đời cách đây ngót ngàn năm:
Mĩ nặm chắng mĩ mường
Mĩ mưỡng chắng mĩ tạo. (Có nước mới có mương
Có mường mới có tạo).
Biện pháp nước được người ta đặt lên hàng đầu trong việc làm ruộng. Trải qua hàng chục thế kỷ, hệ thống thuỷ lợi cổ truyền Thái đã được tóm tắt như câu thành ngữ: mường, phài, lái, lĩn.
Tiếp đó là các biện pháp thâm canh lúa đã được đúc kết thành kinh nghiệm như: xác định thời vụ, chọn giống, cày bừa, gieo và chăm sóc mạ, cấy lúa, chăm sóc, thu hoạch…
Đất ruộng đã trở thành nguồn quan trọng nhất để nuôi sống con người, đồng thời nó cũng hình thành một nền văn minh lúa nước của dân tộc. Đất ruộng luôn tồn tại cùng với xã hội bản mường, góp phần hình thành và phát triển nét văn hoá đặc trưng của cộng đồng người Thái.
Nhưng, khi hệ thống cai trị của tầng lớp phong kiến phát triển, đất ruộng đã trở thành bổng lộc của người có chức sắc. Cũng như tình trạng chung của chế độ “phong kiến” (trả công bằng đất), những phần đất màu mỡ bằng phẳng đã trở thành đất chung của mường do lãnh chúa cai quản. Vì vậy, trước khi cải cách ruộng đất, ruộng người Thái gồm những loại như sau:
– Nã kãm: Là đất để lãnh chúa (án nha/phìa) trả bổng lộc cho những người có chức sắc từ chá bản trở lên. Tuỳ chức sắc lớn nhỏ mà được hưởng các mảnh ruộng lớn hay nhỏ, xa hay gần, tốt hay xấu do lãnh chúa phân.
– Nã bớt: Là ruộng chung của bản, chia cho các hộ để trồng cấy. Nhưng, gọi là ruộng chung, nên nếu ai sử dụng đều phải gánh vác những công việc chung của mường như phu làm đường, các công việc chung của mường và đi lính bắt buộc… Vì vậy, nhiều người dân thường bỏ ruộng công mà đi vào rừng làm nương để sinh sống, hoặc xin đi làm cuông, nhốc (phục dịch cho lãnh chúa). Người Thái có câu “Háp nã pã việk” (gánh ruộng là đeo việc) chính là vì lẽ đó.

2.3. Đất nương.
Ngày xưa mỗi năm chỉ cày cấy có một vụ. Để có thóc đủ ăn cả năm người Thái phải làm thêm nương.
Đảy khảu hay nõn báu chã,
Đảy khảu nã nõn đắp nẻn. (Được lúa nương dễ ngủ,
Được thóc ruộng ngủ say).
Làm nương thì quá vất vả, nhưng thu hoạch chẳng được là bao, nương nhìn rộng không bằng ruộng một thửa (Hay đừa tà báu to nã haư nưng). Làm nương thường hay thất bát, năm được trâu, năm bán con (Pì đảy koãi, pì khài lụk). Nhưng họ vẫn phải làm để có đủ ăn cho cả năm. Hơn nữa nương cũng rất cần cho việc trồng bông để làm vải, trồng hoa màu để chăn nuôi gia súc gia cầm. Nên người Thái vẫn coi trọng cả ruộng và nương, họ coi ruộng nương, vườn tược, hoa màu, chăn nuôi gia súc, ao ruộng thả cá là mỏ thức ăn nuôi sống con người. (Hay nã, xuồn hượk, phướk mẵn, tảnh liệng, xắt xính, nòng pà, nã ke, kẵm đìn khòng ók bó).
Trong khi ruộng chỉ có thể trồng một loại cây lúa thì nương không những bổ sung thêm nguồn lương thực mà cò có thể trồng được rất nhiều cây thực phẩm, làm cho nông nghiệp truyền thống Thái phá được thế độc canh cây lúa chuyển thành đa canh nhiều chủng loại cây trồng. Vì thế người Thái gọi tầng lớp nông dân là “po hay me nã” (ông nương bà ruộng).
Nương của người Thái được chia làm hai loại chính. Một là nương cày – do học được phương pháp canh tác của người Hà Nhì, người Thái trắng cũng đang thực hiện. Hai là nương thuộc loại hình nông nghiệp dùng dao cuốc hay dùng tay rất phổ biến ở nhiều cư dân ở vùng nhiệt đới gió mùa. Loại nương này có từ thời nguyên thuỷ, khi con người mới biết trồng trọt đầu tiên. Lối canh tác này được gọi là “dao canh hoả chủng”, người Thái gọi là “hay”.
Người Thái thường có rất nhiều câu tục ngữ kiểu dạng sau:
Kanh dú nã, khà dú hay
(Kanh pay nã, khà pày hay) Cẳng dưới ruộng, đùi trên nương
(Cẳng xuốn ruộng, đùi lên nương)
Dệt hay bớng tìn phà
Dệt nã bớng tìn lọng Làm nương xem chân núi
Làm ruộng xem chân trũng
Nhã vãng nã đàng háy
Nhã vãng hay đàng bài Chớ bỏ ruộng đang cày bàư
Chớ bỏ nương đang làm cỏ
Dệt hay bốm chã
Dệt nã bốm phản Làm nương ủ lá cây
Làm ruộng ngâm đất kỹ
Điều đó nói lên rằng ruộng và nương là hai đối tượng luôn gắn bó, gắn kết với nhau trong đời sống của người Thái.
2.4. Đất vườn.
Ngoài đất ruộng và đất nương, người Thái còn có đất tận dụng để làm vườn. Có hai loại vườn phổ biến như sau: Người ta chọn đất có điều kiện tưới tiêu (ven sông, suối, mương, máng) để làm vườn trồng rau dùng cho bữa ăn hàng ngày (gọi là xuồn phắc). Chọn các miếng đất gần nhà, quanh bản để làm vườn trồng cây ăn quả (xuồn mák, xuồn mãnh). Đất rộng có thể trồng nhiều loại cây như cam, quít, mít, đào, mận…, đất hẹp chỉ trồng một vài cây, thậm chí chỉ trồng một cây để sử dụng trong nhà mùa nào thứ nấy.
Người Thái còn tận dụng các không gian quanh nhà để trồng các loại rau thơm để tiện sử dụng hàng ngày. Đó là các máng làm từ thân cây gỗ rỗng, hay ghép từ các tấm bìa gỗ, rồi đổ đất tốt vào sau đó trồng các loại rau thơm hay cây thuốc như hành lá, tía tô, húng chó, lá bỏng, giẻ quạt…

3. Cách sử dụng đất trong dân gian:
3.1. Làm ruộng, ruộng bậc thang.
Trong quá trình khai khẩn đất đai để làm ruộng, người Thái đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm chọn những nơi đất màu mỡ: “Nã đì dú tìn bản” (ruộng tốt ở chân bản) để sản xuất. So với làm nương rẫy thì làm ruộng đem lại giá trị hơn nhiều: “Hay tềm tà, báu to nã hưa nọi” (Nương đầy tầm mắt, không bằng thửa ruộng nhỏ). Qua câu tục ngữ này, chúng ta thấy đồng bào nhận thức rất rõ ràng về lợi ích giữa làm nương và làm ruộng.
Điều này về bản chất khác hẳn với các dân tộc “ăn theo lửa”. Vì rằng các dân tộc sống dựa vào nương rẫy ít chú ý đến thâm canh, nhưng đối với người Thái các yếu tố thâm canh lúa nước lại rất được chú. Vì vậy ở những nơi có thể họ đều khai phá thành ruộng bậc thang.
Quy trình khai phá ruộng bậc thang của người Thái trải qua nhiều công đoạn khác nhau, bao gồm: Quá trình chọn đất, khai đất mở ruộng, làm mương dẫn nước vào ruộng, đắp bờ ruộng, cày, bừa…
Chọn vị trí khai phá ruộng bậc thang: Vị trí phù hợp cho việc khai phá ruộng bậc thang thường là những nơi gần bản, theo triền dốc của mỗi quả đồi, sườn núi gần với các nguồn nước. Bởi nguồn nước chính là yếu tố quyết định sự sống còn của các khu ruộng bậc thang. Độ dốc của các khu ruộng bậc thang cũng không được quá lớn, nếu độ dốc quá lớn sẽ không thuận lợi cho việc khai phá, không thể đắp được bờ giữ nước, tạo được mặt phẳng cho ruộng
Cách khai phá rộng bậc thang: Quá trình khai phá được thực hiện từ trên xuống dưới theo hình dáng của triền đồi, độ rộng hẹp của các thửa ruộng được tạo theo chiều dốc của đồi, nếu độ dốc lớn thì mặt phẳng của ruộng được làm nhỏ, phía dưới chân có độ dốc nhỏ hơn thì mặt phẳng của ruộng được làm rộng hơn, diện tích của các thửa ruộng dưới chân sẽ lớn hơn ở trên đồi. Bờ ruộng được tạo bởi số đá lẫn trong ruộng xếp lên cùng với số đất thừa đào ra từ mặt ruộng trong quá trình khai phá. Mặt bằng của bờ ruộng thường vào khoảng 20 – 30cm, đủ lớn mọi người có thể đi qua mà không dẫm xuống ruộng lúa. Chiều cao của bờ ruộng so với mặt nước khoảng 15 – 20cm. Với chiều cao như vậy đủ để giữ được một lượng nước nhất định trong mỗi thửa ruộng. Chiều cao từ thửa ruộng trên so xuống với thửa ruộng phía dưới phụ thuộc vào độ dốc của khu đất khai phá làm ruộng. Mỗi khi mùa cày cấy được bắt đầu thì họ lại tiến hành kiểm tra, đắp vá lại để đảm bảo bờ ruộng luôn chắc chắn, giữ được nước trong ruộng lâu hơn. Người Thái có câu “Nặm mẵn cẵn kiểng” (Bờ trơn tru tựa bôi mỡ) là để khuyên mọi người phải biết chăm lo cho bờ ruộng bậc thang.
Làm mương dẫn nước vào ruộng: Đi đôi với việc khai phá là việc đào mương dẫn nước vào ruộng. Hệ thống mương máng phải lấy được nước từ con suối để chảy vào ruộng được thường xuyên, liên tục nhất là trong thời gian trồng cấy lúa. Nước được dẫn đến khu ruộng cao, từ ruộng cao cho chảy tràn xuống ruộng thấp qua rãnh thoát (tạng nã), mỗi thửa ruộng là một phần của con mương dẫn đặc biệt này, cuối cùng lượng nước thừa được tháo chảy ra dòng suối dưới chân mỗi triền ruộng.
Cày bừa: Công việc cày bừa được thực hiện ngay sau khi đắp bờ và san phẳng xong. Cày bừa sẽ có tác dụng làm đất tơi và lắng xuống tạo thành tầng giữ nước cho ruộng

3.2. Canh tác trên đất dốc.
Trên đất dốc người Thái có cách canh tác khá phù hợp. Trước hết họ không bao giờ phát nương đến hết đỉnh đồi mà phải để chỏm cây trên đỉnh gọi là “chòm khuồn” (chỏm hồn). Người Thái quan niệm nương cũng có hồn và trú ngụ tại “chòm khuồn” tức là khóm rửng trên đỉnh đồi. Ngày xưa, mỗi khi đến mùa làm nương rẫy, người ta phải đến khóm rừng này để cúng nương (tãm hay). Việc canh tác cũng diễn ra với các phương pháp rất hợp lý. Nương dốc quá thì không được cào sâu, thậm chí chì dùng dao hay tay để làm cỏ. Cách trồng phải bố trí hàng theo đường đồng mực, các cây của hàng trên và dưới phải so le nhau, không được thẳng hàng. Khi chọc lỗ bỏ hạt, người chọc lỗ phải chọc ngang theo đường đồng mực thành một hàng cho đến hết nương, sau đó mới chọc hàng khác quay lại; khi chọc phải nhìn hàng trên để chọn vị trí so le để chọc.
Về cây trồng trên đất dốc, người ta cũng quy định: các cây trồng lấy củ chỉ trồng trên đất bằng; cây lương thực (lúa, ngô) trồng đất vừa; cây lâu năm trồng trên đất dốc.

3.3. Luân canh.
Trên một diện tích nương, tập quán Thái ngày xưa chỉ trồng 3 vụ cũng là 3 năm, rất ít khi trồng năm thứ tư. Vì thế trong ngôn ngữ Thái chỉ có: hay lao, hay lộc, hay lựm để chỉ các vụ của mỗi diện tích nương, không có danh từ chỉ vụ thứ tư. Như vậy sau 3 năm khai phá, nương phải bỏ hoá để cây mọc thành rừng tái sinh.
Từ đó có thể thấy, một gia đình nông dân chỉ cần phá rừng làm 4 đám nương luân chuyển để để thành vòng khép kín trong 12 năm. Đó cũng là thời giam đảm bảo cho rừng nhiệt đới tái sinh và người nông dân có thể trở lại canh tác trên diện tích ban đầu. Đó là cách làm nương rẫy theo phương pháp: luân canh bỏ hoá trong chu kỳ khép kín.
Theo luật tục Thái, trong phạm vi đất chung do mường quản lý, người ta khoanh hẳn một vùng đất rộng hàng chục hecta mang tên “đìn hay” (đất nương) để các gia đinh trong một bản tự do làm rẫy.
Thường thường, mỗi một nương có thể trồng cây theo một trong hai công thức sau:
– Năm 1: trồng bông; năm 2: trồng lúa; năm 3: trồng ngô hay hoa màu khác.
– Năm 1: trồng lúa; năm 2: trồng lúa; năm ba: trồng ngô hay hoa màu khác.
Đặc biệt, nương sau khi trồng bông (hay lộc phải) thường rất tốt, trồng lúa năng suất rất cao.
Tuy vây, cách làm nương rẫy theo phương pháp: luân canh bỏ hoá trong chu kỳ khép kín chỉ thích hợp khi đất rộng, người thưa. Khi dân số phát triển, quỹ đất nương có hạn, người ta phải làm thêm nhiều năm, thậm chí là vĩnh viễn không bỏ hoá.

3.4. Xen canh.
Xen canh là hình thức khá phổ biến ở các dân tộc miền núi, xuất phát từ lợi ích đem lại của việc trồng nhiều loại cây trên cùng một diện tích đất. Riêng người Thái, có một hình thức xen canh gắn bó lâu đời và rất phổ biến là ngô và đỗ nho nhe. Khi trồng ngô, người ta trộn thêm hạt đỗ nho nhe vào hạt ngô giống. Cây đỗ nho nhe sẽ mọc cùng hốc với cây ngô, dễ dàng trong việc làm cỏ vun xới. Thời gian sinh trưởng của cây đỗ nho nhe rất phù hợp với cây ngô. Sau khi thu hoạch ngô, thì đỗ mới phát triển mạnh, nó sẽ phủ kính hết cây ngô và không gian trống làm cho cỏ không phát triển được. Người Thái có thói quen khi thu hoạch ngô đến đâu, bẻ gập ngọn cây ngô đến đó, vừa đánh dấu cây đã bẻ bắp vừa tạo đà cho đỗ phát triển. Trồng xen đỗ nho nhe có 2 tác dụng:
– Cho sản phẩm hoa là một món ăn rất ngon. Quả đỗ nho nhe có thể thu hoach ở 2 thời kỳ: quả non để luộc ăn hoặc quả già lấy hạt làm thực phẩm, làm nhân bánh trưng…
– Tác dụng quan trọng nhất là cải tạo đất. Đỗ nho nhe là cây họ đậu có nốt sần để cố định đạm từ khí nitơ tự nhiên, khi cây đỗ chết để lại cho đất một lớp phủ khá dầy và làm tăng lượng đạm dễ tiêu cho đất đáng kể.
Ngoài xen canh ngô và nho nhe, người Thái còn trồng xen các cây trồng khác như:
– Nương lúa trồng xen vừng, lạc, dưa bở, bầu bí.
– Nương bông trồng xen dưa bở.
– Nương ngô trồng xen lạc.
– Gần đây có thêm nương sắn trồng xen ngô gối vụ…
3.5. Chọc lỗ bỏ hạt
Chọc lỗ bỏ hạt là một cách gieo hạt rất phổ biến của người Thái và một số dân tộc thiểu số ở Tây Bắc. Nhiều người nghĩ chọc lỗ bỏ hạt là phương thức gieo trồng lạc hậu. Nhưng thực ra cách gieo hạt này lại rất khoa học,đã được nhiều nhà khoa học ca ngợi. Cây gậy để chọc lỗ (mạy lủng) được làm khá cầu kỳ có thể để sử dụng trong nhiều năm. Chiều dài của nó được lựa chọn kỹ và được đánh dấu các đoạn phù hợp với khoảng cách gieo hạt của từng loại cây trồng. Cho nên, người chưa có kinh nghiệm sẽ coi gậy chọc lỗ là cái thước để bố trí khoảng cách lỗ cho phù hợp. Đầu cây gậy được vót sao cho khi chọc tạo ra một lỗ tròn (khùm lủng) có độ sâu và độ rộng thích hợp, đáy lỗ nhọn, thành lỗ nhẵn. Gieo bằng cách này có ưu điểm là:
– Cây mọc đều hơn so với gieo bằng cuốc. Sở dĩ mọc đều là vì khi chọc lỗ sức nặng của gậy đã nén phần đất xốp (do xới lên để giữ ẩm) để nối lại mao mạch đất, làm cho nước phía dưới ngấm lên trên cung cấp độ ẩm cho hạt nảy mầm. Điều này đã được nhiều nhà khoa học công nhận.
– Cây trồng mọc thành cụm sát nhau rất gọn nên làm cỏ dễ hơn, nhanh hơn. Nếu cây mọc xa nhau, cỏ sẽ mọc ở giữa các cây trồng, phải dùng tay nhổ, mép ngoài khóm không đều sẽ gây khó khăn cho dùng cào làm cỏ.
Chọc lỗ bỏ hạt còn là một nghệ thuật điêu luyện. Người chọc lỗ (xắc lủng) phải biết ước lượng điểm chọc sao cho có độ dầy hợp lý. Khi chọc xuống đất phải xoay cây gậy rồi mới nhấc lên, nếu không lỗ sẽ không gọn, thành không trơn, khó khăn cho việc ném hạt vào lỗ. Người gieo hạt (năm hay) sẽ bỏ một lượng hạt giống nhất định vào lòng bàn tay rồi ném sao cho rơi trúng vào lỗ, không được phép rơi ra ngoài sẽ làm mồi cho chim chóc đến phá hoại. Thường phụ nữ Thái rất giỏi ném hạt (phốc khùm lủng), họ có thể đứng một chỗ ném ra rất xa cho nhanh, đỡ phải bước đến gần. Người chọc lỗ, người bỏ hạt thường là ngững cặp vợ chồng trẻ hoặc những đôi uyên ương; họ vừa là vừa tâm sự vừa ganh đua xem ai nhanh hơn ai.
Sau khi gieo xong người ta thường lấy một cành cây kéo một lượt để đất xốp lấp vào miệng lỗ (gọi là năm hay koát phột). Lớp đất xốp này giữa ẩm cho hạt rất tốt vì mao mạch đất bị đứt gẫy ở phía trên (trong khi phía dưới hạt thì mao mach đất đã được nối).

3.6. Một số tri thức khác về sử dụng đất
Đất trắng cũng quý, đất đen cũng chuộng, lười biếng không làm, dù đất màu mỡ cũng chẳng ra của cải. (Đìn đón kọ pãnh, đìn đành kọ nhọm, khỉ chạn báu dệt, đìn há kọ báu hák ók khong).
Làm nương chọn chân vách đá, làm ruộng nơi đất trũng. (Dệt hay dệt tìn phà, dệt nã dệt tìn lọng).
Đất tốt trồng bông, đất không tốt trồng cây ăn quả, đất nhàn rỗi trồng hoa màu, đất bùn thì cấy lúa. (Đìn đì púk phải, đìn hại púk mák , đìn dú lạ púk phướk mẵn, đìn pỗng hữ púk khảu).
Xuất phát từ môi trường, địa hình, khí hậu, thời tiết và qua lâu đời thực nghiệm rút ra kinh nghiệm trồng trọt trên nương, dưới ruộng như sau:
Làm nương ủ lá, làm ruộng cày ải. (Dệt hay bốm chã, dệt nã bốm phản).

4. Đất rừng và vai trò của của đất rừng:
4.1. Quan niệm về vai trò của rừng với bảo vệ tài nguyên đất.
Người Thái coi rừng là ô, là tóc của đất (Pá lỏ phồm, lỏ xũ pảy đìn). Đất hết rừng nước cạn, ngàn hết cây lạch khô, đất hết cây đất chết, đất chết hết sự sống (Đìn mết pá nặm hảnh, pũ mết mạy đìn tài, đìn tài tễnh lài báu nhẵng đảy).
Rừng rất cần cho sự sống con người. Rừng là nguồn tích nước; là mỏ thức ăn (Kẵm khảu dú nẳng đìn, kẵm kìn dú nẳng pá – Miếnh cơm ở trong đất, thức ăn ở trong rừng); là nguồn nhiên liệu thắp sáng, thổi nấu, rèn đúc; là nguồn vật liệu xây dựng, đồ dùng; là nguồn dược liệu để chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe, kéo dài tuổi thọ.
Ông cha khuyên bảo, vào rừng chớ chém quàng, chặt bậy để cho cây nó to, đất mát, lúc cần thiết mới chặt, mới đốn.
Trước đây muốn được công nhận một đơn vị hành chính là mường (mưỡng). Bất cứ mường nhỏ hay mường to, ngoài dân số, đất canh tác buộc phải có 5 cánh rừng và một cái ao chung của mường. Đó là: Rừng vào mường (đồng tù tỉ), rừng ra mường (đồng tù xửa), rừng cúng (đồng xền), rừng kiêng (đồng kẵm), rừng ma (pá heo).
Nếu năm khu rừng này đều có đàn vượn đua nhau hót líu lo thì được chọn làm mường yên ổn ấm no.
Rừng không chỉ là nơi cung cấp tài nguyên, lương thực, thực phẩm và điều hoà môi trường sống mà còn có chức năng thông tin (thông tin môi trường, thông tin xã hội, thông tin văn hoá…). Trong đó, những thông tin về văn hoá đóng vai trò quan trọng. Thông qua việc tìm hiểu các tập quán và cách ứng xử của người Thái với các nguồn tài nguyên rừng để tìm hiểu tri thức và kinh nghiệm dân gian của người Thái. Nguồn tri thức này được phản ánh cả trong luật tục, tập quán,ca dao tục ngữ, trong thơ ca, truyện kể của người Thái, thấm đẫm trong các ứng xử của người Thái với rừng.

4.2. Các loại rừng và tập quán bảo vệ rừng.
Các bản xưa đều có rừng và được phân làm nhiều loại như sau:
– Loại thứ nhất là rừng đầu nguồn (tiếng Thái gọi là “pá hùa bó”, “pá hùa ta” hay “đồng ngượk”): Là nơi trú ngụ của thần thuồng luồng (pùa ngượck) – vị thần có nhiệm vụ cung cấp nước cho sản suất và sinh hoạt. Vì vậy, rừng đầu nguồn rất linh thiêng và được bảo vệ nghiêm ngặt. Hàng năm, vào mùa khô hạn, phải làm lễ cúng ở cạnh mó nước để cầu xin “pùa ngượk” cho nước sớm để bà con cày ruộng (“Xò nặm phồn lỗng háy kả, xò nặm phạ lỗng háy nã”, nghĩa là: Xin nước mưa xuống làm ruộng mạ, xin nước trời xuống làm ruộng cấy). Việc khai thác gỗ ở những khu rừng này được nghiêm cấm hoàn toàn vì nếu đổ cây sẽ làm thần tức giận, ảnh hưởng đến việc cung cấp nước thường xuyên. Đặc biệt là những cây cổ thụ có hình thù kỳ quái được coi là “nhà” của thần (“Kò hãy mưỡng phạ, kò bả mưỡng bồn, mạy pền khồn, kỗn pền nuốt, phít lột báu pền hẳm”, nghĩa là cây đa ở mường trời, cây si là của thượng đế, có râu như cụ già, cấm chặt phá).
– Loại thứ hai là rừng thiêng (tiếng Thái gọi là “đồng kẵm”): Những cây trên khu rừng này hầu hết thuộc nhóm 3, nhóm 4 như: trò chỉ, nghiến nghệ, đinh, lim… thường rất đẹp, thẳng tắp. Phía dưới tán cây, thực bì mỏng nhưng nó thường tạo nên một không gian lạnh lẽo, ghê rợn. Trước đây rừng này có nhiều thú dữ, chuyên ăn thịt người và gia súc. Người Thái quan niệm rằng, những cây gỗ cổ thụ này là do những bộ phận còn lại của người hay con thú bị hổ báo bắt đến đây ăn thịt biến thành. Nên gỗ ở đây không ai dám khai thác, vì họ sợ oan hồn những người hay thú chết sẽ chừng phạt họ.
– Loại rừng thứ ba là rừng để làm nương rẫy gọi là “pá láu”: Là đất nơi bằng phẳng, rừng tái sinh. Ngày xưa, quỹ đất này khá rộng so với dân cư hồi đó, nên người ta chia ra từng khảnh để phát nương cho từng năm. Năm đầu mới phát gọi là “hay lao”, năm thứ hai phát cỏ trồng lại gọi là “hay lộc”, năm thứ ba phát cỏ làm lại một lần nữa gọi là “hay lựm”. Người Thái chủ yếu chỉ làm nương từ hai đến ba năm là “hay lao” và “hay lộc”, “hay lựm”. Sau đó bỏ hoá cho rừng mọc tự nhiên thành “pá láu”. Sau 10 đến 12 năm lại có thể làm nương lại được.
– Loại rừng thứ tư là “pá húa” hay “đòn húa”: Là khu rừng có các động vật quý hiếm như hươu, nai, hoãng, don, nhím… dân dùng để săn bắt cộng đồng. Những cánh rừng này thường có nhiều núi đá và hang động kỳ vĩ. Rừng có nhiều cây cổ thụ và một số loài cây mọc chênh vênh trên vách đá, thiên hình vạn dạng. Luật cũ quy định: Rừng để săn bắt tuyệt đối không phát quang, không chặt những cây có quả và loại cỏ mà thú dùng làm thức ăn vì làm như vậy chúng sẽ chạy đi chỗ khác hoặc tìm đến ăn lúa, hoa màu của người, không được phá bỏ những cây sống trên vách đá vì chúng là những vị thuốc quý cho các loại thú rừng.
– Loại rừng thứ năm là rừng để khai thác lâm sản: Đó là những cánh rừng già dành cho việc khai thác gỗ, tre để dựng nhà, và các lâm sản khác để phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống thì tuyệt đối không được chặt đốt làm nương.
– Loại rừng thứ sáu là rừng tha ma (pá heo): Là nơi an táng người đã khuất. Ở mỗi bản hay mường đều giành một khoảng đất để làm nơi chôn người chết. Với rừng này, người Thái hoàn toàn kiêng kỵ việc phá rừng, chặt cây. Chỉ khi có người chết họ mới chặt một số cây để làm nhà mồ cho người chết. Ở một số nơi, gắn liền với tập tục ma chay của họ, các cây rừng tại khu vực đó chuyên chỉ để an táng cho người chết, mỗi một người chết đi, họ sẽ vào “rừng ma” để chặt hạ một cây gỗ, đem về làm quan tài cho người chết, nhưng khi chặt một cây thì phải trồng lại từ năm đến mười cây…
– Ngoài ra, một số bản còn có “pá đồng xỗng kốt”: Tức là rừng ở nơi xa khu dân cư còn nguyên nét hoang sơ. Trước đây, vì xa xôi, cách trở nên không ai đến khai phá rừng, chỉ có ít người thường đến săn bắt thú quý, nhưng họ vẫn tự giác chấp hành các luật tục cũ đã quy định, thậm chí còn làm các thủ tục xin thần để được săn bắt. Tục cũ quy định tránh săn bắt thú quý vào mùa sinh sản, không săn hết đàn, không bắt hết tổ (“nhã kìn tễnh xáy, nhã báy tễnh hẵng”).

4.3. Các tín ngưỡng bảo vệ rừng.
Trải qua hàng ngàn năm sống với tự nhiên, sống với núi rừng, người Thái nói riêng và người miền núi nói chung đã hiểu được các quy luật của tự nhiên. Từ đó, họ đã đặt ra những luật tục bảo vệ rừng, bảo vệ thiên nhiên. Thần thánh hoá và thêu dệt nên sự huyền bí cho luật tục, nhằm răn đe những ai muốn xâm phạm hệ sinh thái bền vững của tự nhiên. Họ cho rằng khu rừng thiêng là nơi ngự trị của thần linh, đó là nơi che chở cho muông thú mà con người không được động đến. Nếu ai xúc phạm sẽ bị thần linh trừng phạt. Nhiều nơi còn cho là: những con thú rừng bị người đi săn bắn bị thương chạy trốn vào rừng thiêng cũng được thần linh bảo vệ, người đi săn nếu đuổi con thú mà nó đã chạy vào rừng thiêng thì cũng phải dừng lại, không truy đuổi nữa…
Trước đây, cứ vài năm một lần, người ta phải tổ chức lễ cúng trâu tại những cánh rừng thiêng. Nghi lễ cúng được các mo mường đảm nhiệm. Lễ cúng diễn ra suốt ngày, các chàng trai, cô gái nhảy múa trong tiếng cồng chiêng và hát những bài hát có ý nghĩa: cầu cho mưa thuận gió hoà, trồng lúa lúa tốt, trồng ngô thì được bắp to…
Chính những điều cấm kị như vậy đã ngẫu nhiên biến rừng thiêng trở thành nơi trú ngụ an toàn của nhiều loài động thực vật quý hiếm. Bao đời rồi, người Thái vẫn sống bình yên như vậy và truyền nhau lưu giữ những điều cấm kỵ, để họ còn có được một cánh rừng già hiếm hoi, quý giá như chính sự sùng kính tổ tông và những điều thiêng liêng nhất.

5. Kết luận và kiến nghị:
Trải qua hàng ngàn năm định cư, người Thái đã tạo cho mình một hệ thống các tri thức bản địa quý giá trong sản xuất nông nghiệp, kết hợp với các luật tục trong việc bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn giống quý hiếm để phát triển hệ sinh thái bền vững như hiện nay. Trong đó các tri thức bảo vệ tài nguyên đất luôn được chú trọng.
Trước kia, việc sử dụng đất phục vụ cho nông nghiệp chủ yếu là bằng dụng cụ thủ công đơn giản như cào, cuốc, dùng sức người hoặc sức súc vật cày kéo đồng thời kết hợp với kinh nghiệm của bao đời để lại. Vì vậy phương thức sử dụng đất luôn ở trạng thái cân bằng động bởi bản thân các nhân tố bên trong có biến đổi, tác động qua lại với nhau nhưng vẫn giữ được tính ổn định, ít ảnh hưởng đến môi trường bên ngoài.
Về sau, khi trình độ của con người nâng lên, điều kiện sản xuất tốt hơn, phương tiện, dụng cụ hỗ trợ nâng lên, thì việc sử dụng đất cũng được thay thế bởi phương thức sử dụng đất mới phù hợp hơn. Trước kia sử dụng đất nương để trồng lúa khá nhiều, nhưng về sau khi sản xuất hàng hoá phát triển, người ta đã chuyển sang trồng hoa màu và cây công nghiệp hiệu quả hơn, lúa chỉ trồng ở ruộng cho năng suất cao hơn hoặc trước kia chỉ sử dụng đất dạng bậc thang nhưng về sau người ta đã biết làm bậc thang kết hợp với trồng băng cây xanh để cải tạo đất, chống xói mòn, che chắn gió,…
Khi dân số tăng lên làm quỹ đất bị giảm thì phương thức sử dụng đất luân canh bỏ hoá trong chu kỳ khép kín không còn phù hợp nữa mà nó phải chuyển sang phương thức sử dụng đất thâm canh.
Bên cạnh đó, việc kết hợp với các luật tục và các lễ hội trong sản xuất nông nghiệp đã tạo cho người Thái có một môi trường canh tác hoàn thiện một cách tổng thể. Họ có những luật tục quy định rất chặt chẽ trong việc bảo vệ nguồn nước, bảo vệ rừng, bảo vệ mùa màng được ghi trong luật tục Thái của mường, của bản và có những chế tài cụ thể để xử lý những hành vi vi phạm của người dân ảnh hưởng tới cộng đồng.
Các lễ hội như “xên bản”, “xên mường”, ngoài mục đích cầu an, còn cúng các chủ đất bảo vệ cho các loại đất được bền vững; lễ cúng ruộng “tãm tế nã”, là để cầu mong đất ruộng luôn màu mỡ; lễ hội “xên đông”, “lễ hội nước” giúp gìn giữ nguồn nước… là những nghi lễ gắn liền với bảo vệ đất sản xuất cùng với văn hóa sinh sống gắn liền với nguồn nước của người dân vùng Tây Bắc.
Nhưng, hiện nay những tri thức quý giá và những tập quán bảo vệ đất hiện nay đang bị mai một bởi sự tác động mạnh mẽ của các mặt trái của thi thức hiện đại như việc sử dụng tràn lan thuốc trừ sâu, phân hóa học, thuốc kích thích sinh trưởng, thuốc trừ cỏ… đã làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, giảm sức kháng bệnh của các giống cây trồng đã tác động mạnh mẽ tới đời sống người dân, làm mất khả năng phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp.
Việc đô thị hoá, chuyển mục đích sử dụng đất, và khi đất trở thành hàng hoá bất động sản thì tri thức dân gian bảo vệ đất được tích luỹ bao đời nay của người Thái đã không mảy may còn “đất” để tồn tại.
Do vậy, việc bảo tồn và khai thác, phát huy các tri thức dân gian của người Thái là hết sức cần thiết. Đó là một trong những giải pháp hữu ích để bảo vệ đất, nước, môi trường, gìn giữ và phát triển các sản phẩm nông nghiệp truyền thống có chất lượng cao và tốt cho sức khỏe. Bên cạnh đó, việc phát huy các luật tục và các lễ hội nông nghiệp của người Thái trong phát triển du lịch sẽ giúp tăng thu nhập cho người dân, xây dựng phát triển tốt thương hiệu các sản phẩm nông nghiệp của người Thái. Qua đó góp phần xóa đói giảm nghèo phát triển kinh tế bền vững cho đồng bào dân tộc Thái là hướng đi tích cực vừa bảo tồn các di sản văn hóa cộng đồng dân tộc Thái của Việt Nam, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế khu vực và đất nước./.