Vừa qua, ở cả nước nói chung và Sơn La nói riêng đã xôn xao về việc có sự sai lệch giữa các loại lịch. Đó là sự sai lệch về ngày âm lịch trong tháng sáu âm (từ 25/6/2006 đến 24/7/2006 dương lịch). Vậy tại sao lại có sự sai lệch đó?
Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu về Âm lịch và Âm lịch Việt Nam
Âm lịch là một loại lịch thiên văn. Nó được tính toán dựa trên sự chuyển động của mặt trời, trái đất và mặt trăng. Ngày tháng âm lịch được tính dựa theo các nguyên tắc sau:
• Ngày đầu tiên của tháng âm lịch là ngày chứa điểm Sóc
• Một năm bình thường có 12 tháng âm lịch, một năm nhuận có 13 tháng âm lịch
• Đông chí luôn rơi vào tháng 11 âm lịch
• Trong một năm, nếu có 1 tháng không có Trung khí thì tháng đó là tháng nhuận. Nếu nhiều tháng trong năm nhuận đều không có Trung khí thì chỉ tháng đầu tiên sau Đông chí là tháng nhuận
• Việc tính toán dựa trên kinh tuyến 105 đông (múi giờ 7).
Sóc là thời điểm hội diện, đó là khi trái đất, mặt trăng và mặt trời nằm trên một đường thẳng và mặt trăng nằm giữa trái đất và mặt trời. Gọi là “hội diện” vì mặt trăng và mặt trời ở cùng một hướng đối với trái đất. Chu kỳ của điểm Sóc là khoảng 29,53 ngày. Ngày chứa điểm Sóc được gọi là ngày Sóc, và đó là ngày bắt đầu tháng âm lịch.
Theo các nguyên tắc trên, để tính ngày tháng âm lịch cho một năm, chúng ta cần xác định những ngày nào trong năm chứa các thời điểm Sóc. Một khi đã tính được ngày Sóc, ta đã biết được ngày bắt đầu và kết thúc của một tháng âm lịch: ngày mồng một của tháng âm lịch là ngày chứa điểm sóc. Khi tính ngày Sóc ta cần lưu ý xem xét chính xác múi giờ. Ở các múi giờ khác nhau điểm Sóc sẽ rơi vào các giờ khác nhau, đôi khi vào các ngày khác nhau.
Âm dương lịch Việt Nam (thường quen gọi là Âm lịch) được xây dựng trên cơ sở các Quyết định của Chính phủ về múi giờ và sử dụng Âm lịch ở Việt Nam. Tuy lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc được tính toán dựa trên cùng một nguyên tắc nhưng sự khác biệt về múi giờ (giờ chính thức của Trung Quốc là múi giờ 8, trước Việt Nam 1 giờ) đã làm cho lịch hai nước nhiều chỗ khác nhau về ngày tháng, tiết khí, tết Nguyên đán…
Chẳng hạn điểm Sóc đầu tháng sáu vừa qua xảy ra lúc 23 giờ 05 phút ngày 25/06/2006 (giờ Việt Nam) do vậy lịch Việt Nam lấy ngày 25/06/2006 là ngày mồng 1 tháng sáu năm Bính Tuất. Nhưng thời điểm đó theo giờ Bắc Kinh đã là 0 giờ 5 phút ngày 26/06/2006 và lịch Trung Quốc lấy ngày 26/06/2006 là ngày mồng 1 tháng sáu. Như vậy do có sự chênh lệch ngày đầu tháng sẽ dẫn đến sự sai lệch cả tháng giữa lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc. Hơn thế nữa, tháng nhuận được tính dựa trên sự so sánh giữa điểm sóc và điểm tiết khí (lịch 24 tiết), hai thời điểm này có thể chênh lệch nhau giữa 2 múi giờ nên dẫn đến tháng nhuận cũng có thể lệch nhau. Đây là lý do tại sao có một vài điểm khác nhau giữa lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc.
Ở Sơn La cũng như cả nước đang có các loại lịch được lấy dữ liệu từ hai loại lịch khác nhau. Phần lớn các Nhà xuất bản lấy theo lịch do Ban lịch Nhà nước ban hành, nhưng một số Nhà xuất bản lại lấy dữ liệu từ các cuốn lịch vạn niên dịch từ Trung Quốc dẫn đến có sự sai lệch so với lịch Việt Nam.
Vậy sự sai lệch này có ảnh hưởng đến cổ học Phương Đông?
Dĩ nhiên là có ảnh hưởng, trước hết là những ngày theo âm lịch như: ngày Tam nương, ngày Nguyệt kỵ, ngày Dương công… là khác nhau rõ rồi. Còn những ngày theo hệ đếm can chi cũng sẽ bị sai, chẳng hạn ngày Hoàng đạo tháng sáu âm vừa rồi là các ngày: 2, 3, 7, 9, 14, 15, 19, 21, 26, 27 (theo lịch Trung Quốc là các ngày: 1, 2, 5, 8, 13, 14, 18, 20, 25, 26); ngày Hắc đạo là các ngày: 1, 5, 8, 11, 13, 17, 20, 23, 25, 29 (theo lịch Trung Quốc là các ngày: 4, 7, 10, 12, 16, 19, 22, 24, 28). Các sao chiếu mệnh cũng bị sai lệch, sao Thiên Đức chiếu vào các ngày: 7, 19 (theo lịch Trung Quốc là các ngày: 6, 18) v.v… và còn rất nhiều điểm sai lệch nữa.
Để tránh sai sót, tốt nhất người Việt Nam hãy dùng lịch Việt Nam. Xin giới thiệu một số cuốn lịch tính theo giờ Việt Nam: Lịch và niên biểu lịch sử hai mươi thế kỷ 0001-2010 của Lê Thành Lân, Lịch Việt Nam thế kỷ XX-XXI (1901-2100) của Trần Tiến Bình… Một số cuốn lịch dịch từ Trung Quốc như: Lịch vạn niên thực dụng, Lịch vạn niên dịch học phổ thông, Lịch và lịch vạn niên… không nên sử dụng để soạn lịch, nếu sử dụng cần có sự hiệu chỉnh chỗ sai lệch.