GIỚI THIỆU TÓM TẮT TÁC PHẨM

 KHUN TÍNH

 

 

  1. Xuất xứ.

Truyện thơ Khun Tính là truyện khuyết danh và chưa có thông tin nào làm căn cứ để xác định thời gian xuất hiện của truyện thơ này. Hiện nay truyện thơ Khun Tính gồm rất nhiều bản khác nhau. Chúng tôi chọn bản “Quám Khun Tính” in trong cuốn “Truyện thơ và trường ca dân gian Thái” tập 2 do Hội Văn nghệ – Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Sơn La in năm 1997 làm bản nghiên cứu chính. Toàn bộ tập sách được viết bằng chữ Thái. Truyện thơ “Quám Khun Tính” gồm cả thảy 1070 câu thơ, người sưu tầm là ông Cầm Bao. Trong phần “Tài liệu tham khảo” của truyện có ghi rõ: Truyện thơ Quám Khun Tính được lựa chọn và biên tập thông qua việc tham khảo 7 bản khác.

Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo thêm bản “Truyện thơ Khủn Tưởng – Khủn Tinh” của Nghệ An dài 793 câu, do Sầm Văn Bình cung cấp và Truyện thơ chữ Thái viết tay “Quám Khun Tớng” dài 1215 câu của nhóm SIL TAIDAM giới thiệu trên Internet.

Hai bản “Quám Khun Tính” của Sơn La và “Quám Khun Tớng” của SILTAIDAM có nội dung cơ bản giống nhau, chỉ có một số ít tình tiết khác nhau. Còn bản “Truyện thơ Khủn Tưởng – Khủn Tinh” của Nghệ An thì khác rất nhiều. Ngoại trừ do âm địa phương, các danh từ riêng cũng khác nhau nhiều như: An Ca/Ám Cai; Chiềng Ban/Chiêng Chan; Khun Tớng/ Khủn Tưởng; Chông La/Chung La… Nội dung cũng khác nhau khá nhiều, đặc biệt có thêm phần hai nàng Tong tổ chức cuộc gây chiến với Nàng Ni để cướp lại Khun Tính.

Các bản truyện thơ trên đều là sản phẩm của việc thơ hoá cốt truyện dân gian Khun Tính trong bộ truyện “Khun Tớng – Khun Tính – Nàng Ni”. Bộ ba truyện này phổ biến cả trên Tây Bắc và Nghệ An. Nhưng rất có thể nó có xuất xứ từ Nghệ An vì cốt truyện của Nghệ An được gắn với các địa danh mà đến nay tên các địa danh này vẫn còn tồn tại.

 

  1. Tóm tắt truyên thơ “Khun Tinh”.

Tạo Khun Tớng (con tạo Khun Khẻ), nối nghiệp cha cai quản mường Chiềng Ban giàu có và thơ mộng. Tuy đã lấy vợ nhiều năm nhưng vẫn không có con nối dõi. Trong một dịp vào rừng săn bắn, Khun Tớng đi lạc lối xuống mường Chông La (mường của thuồng luồng). Nàng Ét Khạy, con gái của vua thuồng luồng, đem lòng yêu mến Khun Tớng đã khéo tán tỉnh khiến Khun Tớng không từ chối được phải ở lại chung sống với nhau, ít lâu sau Ét Khạy cho Khun Tớng biết là nàng đã mang thai.

Ở mường Chiềng Ban, Nàng Tớng (vợ Khun Tớng) đợi chờ lâu mà không thấy chồng về. Nàng Tớng tìm đến thầy mo hỏi và được biết Khun Tớng đang chung sống với nàng Ét Khạy, đồng thời thầy mo cũng bày cho Nàng Tớng biết cách làm bùa phép để Khun Tớng chóng được về nhà. Thế là ở dưới mường Chông La, nàng Ét Khạy cảm thấy hết sức bức bối và khó chịu. Nàng phải đi xuống sông tắm và hiện nguyên hình là một con thuồng luồng to lớn. Khun Tớng thấy vậy mới sợ hãi, chán ngán và xin được trở về mường cũ Chiềng Ban. Ét Khạy chỉ đường cho Khun Tớng và đẻ con để trả cho Khun Tớng. Khun Tớng đem theo con trai nhỏ của hai người trở về quê cũ. Vợ chồng Khun Tớng gặp lại nhau, còn cậu bé được đặt tên là Khun Tính. Nàng Tớng cho rằng Khun Tính mang dòng máu của ma thuồng luồng nên e ngại mọi sự lành dữ, mới xúi chồng đem Khun Tính bỏ vào chốn rừng sâu. Khun Tính được các loài muông thú cùng mẹ nuôi nấng, bảo vệ nên vẫn khoẻ mạnh và lớn khôn.

Về sau Khun Tớng hối hận và thương nhớ con, cho người đi dò tìm. Biết được Khun Tính vẫn sống và khoẻ mạnh, Khun Tớng tổ chức đi đón rước về. Đến tuổi trưởng thành, Khun Tính cũng vào rừng săn, mải đuổi theo một con hươu đẹp mà đi lạc xuống mường Chông La, gặp lại mẹ là Ét Khạy. Hai mẹ con gặp nhau vui mừng khôn xiết. Được mẹ dặn trước, khi đến thăm ông ngoại, Khun Tính xin được nồi đồng và giáo gươm cổ từ thời ông cha truyền lại. Sau một thời gian, Khun Tính xim phép mẹ trở về Chiềng Ban. Ra khỏi mường Chông La, đến một khu rừng hai quai nồi đồng mắc vào cây, khiến chàng dừng lại. Bỗng xuất hiện một mường mới có nhà cửa, gia súc và của cải nhiều vô kể, muôn dân xuất hiện và Khun Tính trở thành chủ mường. Hai quai nồi biến thành hai cô gái đẹp (gọi là hai nàng Tong) cùng kết duyên với Khun Tính. Hai cô đã giúp chồng tạo dựng được mường giàu mạnh. Sau đó Khun Tính trảy về Chiềng Ban thăm cha mẹ. Khun Tớng bấy giờ đã già yếu, mới trao quyền cai quản Chiềng Ban cho Khun Tính, được ít lâu thì ông mất. Khun Tính được làm chủ cai quản cả hai mường. Tiếc thương cha, Khun Tính vào dạo trong rừng cho khuây khoả. Thế rồi trong lúc “giải thoát nỗi lòng”, chàng vô tình “tè” vào một hốc đá. Nàng Ni (nàng vượn) trong lúc khát, đã uống nước đọng trong hốc đá và mang thai. Vốn trước kia thuộc dòng dõi Then ở trên trời nàng Ni được báo đấy là con của tạo Khun Tính. Một thời gian sau, Khun Tính lại tới khu rừng nọ. Nghe tiếng vượn hót ru con với lời trách móc mình, Khun Tính mới hỏi nàng vượn. Nàng cho biết nàng đã có con cùng chàng. Rồi nàng Ni tìm cách mê hoặc để Khun Tính ở lại với mình cùng với con trai được đặt tên là An Ca.

Ở mường Chiềng Ban, hai nàng Tong cũng tìm hỏi thầy mo và được biết Khun Tính đang sống cùng nàng Ni trên hang núi đá. Hai nàng đã tổ chức những người cao tay hai lần đi đàm phán để xin nàng Ni trả Khun Tính về. Cuối cùng Khun Tính và con trai An Ca cũng trở về Chiềng Ban. Tuy sống với hai vợ và cuộc sống khá giả, nhưng Khun Tính vẫn nhớ nàng Ni. Mười sáu năm sau, khi An Ca đã lớn, Khun Tính bảo An Ca đến thăm mẹ và rủ mẹ cùng về Chiềng Ban. Vâng lời cha, chàng đã đến thăm mẹ và mời mẹ về cùng. Nàng Ni đồng ý và cùng con trai về ở Chiềng Ban. Đến biên giới chàng An Ca cho mẹ ở lại đó và đến báo cho cha trước. Khun Tính tổ chức đi đón nàng Ni về để cùng lo toan việc mường. Nàng Ni rất sợ chó, Khun Tính thông báo cho mọi người phải nhốt hết chó. Hai nàng Tong căm tức nàng Ni và không muốn chồng có thêm thê thiếp nên đã nghĩ cách không cho nàng Ni về ở cùng. Họ đã nhốt chó sẵn trong buồng. Khi nàng Ni đến liền thả ra, chó đuổi nàng Ni chạy vào rừng không dám quay lại. Hai nàng Tong và An Ca cùng Khun Tính lại chung tay cai quản đất Chiềng Ban.