Dân tộc Thái ở Việt Nam có cùng nguồn gốc với các cộng đồng ngữ hệ Thái thế giới. Địa bàn cư trú các cộng đồng ngữ hệ Thái tạo nên mảng lãnh thổ liền nhau từ đảo Hải Nam (Trung Quốc), qua miền Nam và Tây Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam, Lào, Thái Lan, Đông Bắc và Bắc Myanma, qua bang Atxam của Ấn Độ, cho đến Tây Bắc Campuchia và Bắc Malayxia.
Các cộng đồng thuộc ngữ Hệ Thái thế giới gồm khoảng hơn trăm triệu dân. Trong đó Vương quốc Thái Lan chiếm khoảng trên sáu mươi triệu người. Ở Lào, các tộc người Lào Lum đều thuộc ngữ hệ Thái, có khoảng 4 triệu dân. Ngoài ra người thuộc ngữ hệ Thái còn là dân tộc thiểu số có dân số khá đông và tạo nên dải lãnh thổ liền khu ở các nước khác trong khu vực Đông Nam Á của thế giới.
Người ta chia cộng đồng ngữ hệ Thái này thành hai ngành lớn: Ngành phía Đông và ngành phía Tây. Sự phân chia đại quát đó phản ảnh một thực tế các cộng đồng ngôn ngữ này đã chịu tác động lớn của hai nền văn hoá khổng lồ: Trung Hoa (Phía Đông) và Ấn Độ (Phía Tây). Mặc dù phân chia như vậy, nhưng trong sinh hoạt, tập quán canh tác, ngôn ngữ giao tiếp, văn học dân gian… vẫn còn gần như là một. Họ vẫn có thể hiểu nhau và dễ đồng cảm nhau mỗi khi có điều kiện tiếp xúc sau ít thời gian đầu ngỡ ngàng.
Nhóm ngữ hệ Thái ở Việt Nam bao gồm 8 dân tộc là: Tày, Thái, Nùng, Sán Chay, Giáy, Lào, Lự, Bố Y. Họ sống chủ yếu ở khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và phía tây Thanh Hoá, Nghệ An.
Dân tộc Thái ở nước ta cư trú khá tập trung trên giải đất liền từ Tây Bắc đến tây Khu bốn cũ. Họ cư trú khắp toàn tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, tập trung thành các huyện thuộc các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An. Đặc điểm chung của dân tộc Thái là: Có tiếng nói và chữ viết cơ bản giống nhau; trang phục nữ cơ bản thống nhất; có sách sử (Quãm tỗ mưỡng) cơ bản giống nhau. Tuy vậy, các đặc điểm đó vẫn có sự khác nhau chút ít về chi tiết mang tính địa phương.
Dân tộc Thái ở Việt Nam còn chia làm hai ngành nữa là: Thái đen (Tãy đằm) và Thái trắng (Tãy đón, Tãy khào). Trong đó Thái đen là một khối thống nhất cao hơn về nhiều mặt, lãnh vực cư trú liền nhau từ Mường Lò (Yên Bái) đến Mường Thanh (Điện Biên) choán hầu hết tỉnh Sơn La, Điện Biên và nửa phía nam tỉnh Lai Châu, tây bắc tỉnh Yên Bái; với quá nửa số dân Thái ở nước ta. Trong khi đó ngành Thái trắng lại còn chia thành các nhóm địa phương nhỏ hơn, địa bàn cư trú không liền nhau. Ta thấy có các nhóm:
– Lay, Xo, Chiên (Mường Lay, Phong Thổ, Quỳnh Nhai).
– Mường Tớc (Phù Yên, Bắc Yên).
– Mường Sang (Mộc Châu).
Ngoài ra người Thái trắng còn rải rác, xen kẽ ở Mường Kim (Thai Uyên), Mgường Chiến (Mường La), Mường Lò (Yên Bái)…
Các nhóm Thái Hoà Bình (Mai Châu, Đà Bắc) và Thanh Hoá còn được gọi một cách không chính xác là Tay Đeng (Thái đỏ). Trong ký ức địa phương đồng bào tự nhận mình là Thái trắng.
Các nhóm Thái ở Nghệ An việc chia ngành đen trắng đã mờ nhạt.
Ngành Thái đen ở Tây Bắc chủ yếu là những cư dân thuộc hậu duệ của đoàn người thiên di cùng Tạo Xuông, Tạo Ngờn. Theo cuốn sử cổ Quãm tỗ mưỡng và sử thi Táy pú xớc, cách đây trên một nghìn năm, Tạo Xuông, Tạo Ngờn đã dẫn đoàn người Thái từ Mường Ôm, Mường Ai (Hoàng Nham và Tùng Lăng thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) ở phía đầu nguồn sông Hồng xuống khai khẩn đất Mường Lò (Gồm Thị xã Ngiã Lộ, huyện Văn Chấn, huyện Mù Cang Chải và huyện Trạm Tấu ngày nay).Tạo Ngờn ở đấy ít lau vẫn không quen bèn quay trở lại mường Bó Tè (Mường đầu nguồn sông Đà, thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc).
Tạo Xuông ở lại khai khẩn đất Mường Lò, sau đó ông giao cho con trai là Tạo Lò cai quản. Ông qua đời tại đây, hiện nay khu mộ ông vẫn còn tại xã Thạch Lương, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
Tạo Lò sinh được bảy con: Ta Lúc, Ta Lảu, Lặp Li, Lò Li, Lạng Ngạng, Lạng Quang và Lạng Chượng. Sáu con lớn đã được cha chia cho đất để cai quản. Con Út Lạng Chượng, văn võ song toàn nhưng không còn đất để cai quản nên mới tập hợp binh mã để đi mở mang đất mới.
Sau khi luyện tập, trang bị vũ khí đầy đủ, ông đã chọn ngày lành tháng tốt để xuất quân qua dốc Khau Cả, Khau Pục lên Mường Min (Gia Hội, ), Mường Lùng (Tú Lệ, thuộc huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái); qua Khau Phạ, Khau Xam Xíp đến Mường Chiến (Nay là xã Ngọc Chiến, huyện Mường La, tỉnh Sơn La). Được Tạo Chiến đón tiếp và gả con gái cho, nên Lạng Chượng coi đây là quê ngoại. Đoàn người lại tiếp tục qua Khau Vai, Bản Tọ đến sông Đà thì gặp quân của Khun Quảng (người Khơ Mú) chặn đánh. Đoàn quân bị thiệt hại nặng, phải cho người quay lại Mường Lò chiêu thêm quân tiếp viện mới chiến thắng được. Ông cho quân tiếp tục vượt qua Khau Pha, Kéo Tẽo, đánh quân Quảng Têm, Quảng Mi (người Khơ Mú) vào chiếm Mường La (thành phố Sơn La ngày nay), lập lên Chiềng An, Viêng Hài, Viêng Giảng (Tên của hai thành luỹ quân sự bảo vệ Chiềng An).
Lạng Chượng giao cho Khun Dãng ở lại xây dựng đất Mường La, còn ông tiếp tục dẫn quân lên Mường Muổi (Nay là huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). Tại đây, ông gặp quân Ăm Poi (người La Ha) rất tinh luyện. Đánh không được ông bèn rút quân sang đánh chiếm đất người Xinh Mun (do Khun Kằm làm thủ lĩnh) lập nên Mường Muộk (Trước đó gọi là Mường Puộk hay Puộc (mường người Xinh Mun), nay là huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La) và giao cho Khun Dang. Ông lại dùng mưu kế để giết được thủ lĩnh Ăm Poi và chiếm được Mường Muổi rồi ông giao cho Khun Duỗng cai quản. Ông tiếp tục dẫn quân đi chiếm đất Mường Koài (Huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên ngày nay), giao cho Khun Dẹ, chiếm đất Mường Huốk (Thuộc huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên) giao cho Khun Dai.
Ông tiếp tục tiến quân lên Mường Ảng (Nay là huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên), Mường Phăng (Thuộc tỉnh Điện Biên, nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy chiến dịch Điện Biên phủ năm 1954) rồi đến Mường Thanh (Nay là Thành phố Điện Biên, tỉnh Điện Biên) rộng lớn. Đây mới là vùng đất mà ông ưa thích, “tròn trĩnh như cạp nong, hơi cong thế sừng trâu”. Ông đã ở lại Mường Thanh cùng thủ lĩnh các mường khác xây dựng đất Thái đen liền một giải. Rồi ông qua đời, thi hài ông được chôn cất tại quả đồi được gọi là Pom Lạn Chượn (Đồi Lạn Chượng), sau này đổi thành Đồi A1 (Khi trở thành thủ lĩnh, người Thái tôn sùng thành Lạn Chượng, khi ông mất người ta gọi là Lạn Kẵm (Thần Mường).
Cũng thuộc nhánh Thái đen, còn có nhóm Thái ở Yên Châu (Tãy Vạt). Theo nhà nghiên cứu Cầm Trọng và một số nhà nghiên cứu khác, nhóm này có nguồn gốc từ nhóm Thái Bé (Tãy Nọi) của Mường Thanh xa xưa, di cư qua một vùng đất Phật giáo rồi mới đến vùng Yên Châu sinh sống định cư. Vạt có nghĩa là chùa tháp nói chung, Tãy Vạt có nghĩa là người Thái từ vùng chùa Tháp đến. Và họ đã lập nên Mường Vạt để nhớ đến quê cha, đất tổ của mình. Mặc dù thuộc nhánh Thái đen, nhưng Tãy Vạt có giọng nói khác với người Thái đen đa số mà gần gũi hơn với tiếng Lào. Cách phát âm cũng có khác ở một số âm như: “ch” thành “x”, “k” thành “kh”, “d” thành “nh”, ví dụ gọi Chiễng (Chiềng) là Xiễng, koãi (trâu) là khoãi, dão (dài) là nhão…