1. Truyền thuyết và huyền thoại

Từ khi còn nhỏ, người viết tham luận này đã được chìm đắm trong vô vàn những truyền thuyết, thần hoại huyền bí. Âu cũng là lẽ thường tình và dễ hiểu. Bởi đứng trước những hiện tượng thiên nhiên kỳ vĩ xảy ra hàng ngày, hàng giờ, ngay từ thời kỳ mông muội, loài người đã cố đi tìm những lời giải thích cho các hiện tượng đó nhằm thoả mãn sự tò mò và trí tưởng tượng của họ. Vì thế họ đã sáng tạo ra vô vàn các truyền thuyết, thần thoại huyền bí.

Trong khuôn khổ của bài nay, người viết chỉ nêu ra một số truyền thuyết tiêu biểu về nguồn gốc sự sống và loài người được ghi trong các tư liệu lịch sử thành văn của dân tộc Thái như “Koam tô mương”, “Táy pú xớc”, các áng thơ “Mo khoăn”, “Páo khoăn” và các bài cúng “Đưa hồn người chết”…

Nhìn chung, các truyền thuyết đều nói về người Thái đen có nguồn gốc từ Mường Ôm, Mường Ai từ đầu nguồn Sông Đà và Sông Hồng, do Tạo Xuông và Tạo Ngần dẫn người Thái đến Mường Lò. Có truyền thuyết cho là Then đã cho hai Tạo đem tám quả bầu và mười cột chống trời xuống xây dựng đất Mường Lò. Vì ngày xưa trời rất thấp, làm gì cũng vướng, nên phải có cột để chống. Hai tạo đã chia các quả bầu đi khắp nơi. Trong quả bầu có mọi thứ giống, trong đó có cả ba trăm ba mươi họ giống người…(Theo Quam tô mương Mường Muổi, Mường La)

Nhưng cũng theo các tư liệu đó, người Thái lại nói rằng, nguồn gốc của họ sinh ra từ nơi “đất bảy vùng, núi ba hòn, nước chín dòng, cửa Đà – Thao” (Đìn chết tòn, hìn xam xảu, nặm cảu quẽ, pák Tẽ-Tao…).

Theo GS Trần Quốc Vượng và nhà nghiên cứu Cầm Trọng thì đó chính là vùng Tây Bắc mở rộng (tính từ Sông Gâm đến sông Mêkông) cách đây bốn nghìn nằm về trước.

Đó là thời kỳ biển dâng Flandri, khi đó, vùng đồng bằng Bắc Bộ đã biến thành biển (gọi Vịnh Hà Nội), chỉ có 3 đỉnh núi cao Tam Đảo (người Thái gọi là  Pha Vĩ và người Tày gọi là Phya Vì, đều có nghĩa là núi quạt) là còn nhìn thấy nên mới gọi “núi ban hòn“.

Nước chín dòng là: Sông Gâm, Sông Lô, Sông Chảy, Sông Hồng, Sông Đà, Sông Mã, Sông Nậm Rốm, Sông U, Sông Mêkông (Nặm Xang, Nặm Lò, Nặm Cháy, Nặm Tao, Nặm Te, Nặm Ma, Nặm Dôm, Nặm U, Me Khong).

Nơi Sông Đà đổ vào Sông Hồng (pák Te – Tao) là Bạch Hạc, thành phố Việt Trì ngày nay. Hiện nay, người Thái Mường Tấc vẫn đưa hồn xuôi theo Suối Tấc đến Sông Đà ra Bạch Hạc để lên Trời.

Khi đưa hồn người chết, người Thái đen thường bỏ tiền vào túi treo lên cổ người chết để có tiền qua đò sông “Nặm Ta Khái“. Có thể người Thái xưa kia ven vịnh Hà Nội đã coi biển là con sông lớn, bên kia là trời, muốn lên trời phải đi qua con sông lớn này. Con sông lớn này về sau đã trở thành sông “Nặm Ta Khái” huyền thoại. Khi biển rút đi xa không còn thấy nữa, người ta cho là “Nặm Ta Khái” đã lên tận trời.

  1. Nguồn gốc người Thái trên thế giới

Theo Tiến sĩ Leedom Leffer, người ngữ hệ Thái nói chung đều có nguồn gốc từ phía bắc thiên di xuống phía nam. Quá trình thiên di dọc theo lưu vực sông Mêkông bắt đầu thừ thế kỷ I trước công nguyên. Một bộ phận tổ tiên của người ngữ hệ Thái, bắt nguồn từ nhóm Bách Việt sinh tụ ở phía nam sông Dương Tử, tách dần khỏi khối cộng đồng cùng tộc, thiên di xuống hướng nam tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) xuống phía tây của Đông Dương, trong đó có Tây Bắc Việt Nam sống xen kẽ với người thuộc ngữ hệ Môn-Khơme.

Theo GS.TS Cầm Cường, những người thuộc ngữ hệ Thái đã thiết lập vương quốc Nam Chiếu hùng mạnh ở phía tây nam Trung Quốc. Từ Nam Chiếu, người Thái đã di cư dần dần về phía nam, vào sâu trong bán đảo Trung Ấn; sự di cư của họ đã được đẩy mạnh khi quân Nguyên Mông xâm chiếm miền Nam Trung Hoa. Họ đã dần dần chiếm lĩnh địa bàn của các bộ lạc thổ dân bản địa và thiết lập nên lãnh địa để cai trị.

 

  1. Phân loại các nhóm người Thái ở Sơn La

Nói đến dân tộc Thái, người ta thường chỉ nghĩ đến có 2 ngành là Thái đen và Thái trắng. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, bởi mỗi ngành đó lại có những nhóm nhỏ khác nhau về tiếng nói, ăn mặc, phong tục tập quán và có nguồn gốc khác nhau. Theo nhà nghiên cứu Cầm Trọng, người Thái ở Việt Nam gồm 6 nhóm, trong đó ở Sơn La có năm nhóm như sau:

– Nhóm Thái đen 1 (Tay đăm): Sống tập trung liền khoảnh từ phía nam huyện Quỳnh Nhai đến các huyện Thuận Châu, Sông Mã, Mai Sơn, Mường La và thành phố Sơn La.

– Nhóm Thái đen 2 (Tay Vạt): Sống tập trung tại huyện Yên Châu.

– Nhóm Thái trắng 1 (Tay Chiên, Tay Chiến): Sinh sống tại phía bắc huyện Quỳnh Nhai và xã Ngọc Chiến của huyện Mường La.

– Nhóm Thái trắng 2 (Tay Tấc): Sinh sống tại huyện Phù Yên và Bắc Yên.

– Nhóm Thái trắng 3 (Tay Sang): Sống tập trung tại huyện Mộc Châu.

Nói tóm lại là: Ngành Thái đen được chia ra làm 2 nhóm (Tay đăm và Tay Vạt); Ngành Thái trắng được chia làm 3 nhóm (Tay Chiên – Tay Chiến, Tay Tấc và Tay Sang).

 

  1. Nguồn gốc của các nhóm Thái ở Sơn La

(Xin được sắp xếp theo thứ tự có mặt của các nhóm Thái)

  1. a) Nhóm Thái trắng 3:

Theo truyền thuyết và các tài liệu đã có, nhóm Thái trắng 3 là có mặt sớm nhất ở Sơn La. Người Di, Lão đã có mặt tại Phù Yên từ thời Tam Quốc. Sự kiện này đã được Tấn thư, Man thư ghi chép lại. Theo sự phân tích của nhà nghiên cứu Cầm Trọng thì người Di, Lão là tổ tiên của người Thái Phù Yên ngày nay. PGS.TS. Hoàng Lương cũng căn cứ một số truyền thuyết của người Thái như: Khoai ọk chạng đón, Khau cút… cho rằng người Thái đã có mặt tại Phù Yên trước Tạo Xuông, tạo Ngờn rất lâu.

Như vậy, tổ tiên của người Thái Phù Yên đã có mặt ít nhất là 19 thế kỷ.

 

  1. b) Nhóm Thái trắng 1:

Để xác định được nguồn gốc và khoảng thời gian nhóm Thái trắng 1 có mặt tại vùng Lay-Xo-Chiên, các nhà nghiên cứu đã phải dựa vào chuyện kể nhan đề “Ha nhi mí cha” (Đất Hà Nhì) của người Hà Nhì và người La Hủ. Trong chuyện kể rằng, nhóm Thái trắng 1 này là bộ phận tham gia nước Nam Chiếu cùng với người của nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến vào khoảng thế kỷ thứ X. Quân tướng của nhóm Thái trắng này đã tiến hành cuộc binh biến để chiếm đoạt Mường Lay, Mường Tè, Mường Bôm, Mường Nhé, Mường Tong và Mường Xo trong tay người chủ cũ là người Hà Nhì, người La Hủ và người Cống. Sau đó đã di chuyển xuống Mường Chiên, Mường Chiến của tỉnh Sơn La.

Một tư liệu nữa là, khi ông Lạng Chượng đem quân đi mở mang bờ cõi (thế kỷ XI), qua đất Mường Chiến (xã Ngọc Chiến hiện nay) đã được thủ lĩnh Mường Chiến gả con gái cho, và ông đã gọi Mường Chiến là quê ngoại (bản ta, mương nai). Có nghĩa là nhóm Thái trắng 1 đã đến Mường Chiến trước thế kỷ thứ XI. Vậy nhóm Thái trắng 1 đã từ phía bắc đến Mường Chiên, Mường Chiến ít nhất đã 11 thế kỷ.

 

  1. c) Nhóm Thái đen 1:

Nhóm Thái đen 1 có rất nhiều tư liệu thành văn ghi chép lại lịch sử đã trên ngàn năm nay. Nếu ta loại bỏ phần đầu (nhằm giải thích nguồn gốc loài người), thì bắt đầu đoạn kể về ông Tạo Xuông, Tạo Ngờn dẫn đoàn thiên di từ phía đầu nguồn sông Hồng đến định cư tại Mường Lò là tư liệu đáng tin cậy được. Thời kỳ này cũng là thời kỳ khởi đầu cho việc ghi chép lịch sử của người Thái về sau. Tạo Xuông ở lại khai khẩn đất Mường Lò, sau đó ông giao cho con trai là Tạo Lò cai quản. Ông qua đời tại đây, hiện nay khu mộ ông vẫn còn tại xã Thạch Lương, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Tạo Lò sinh được bảy con trai. Sáu con lớn đã được cha chia cho đất để cai quản. Con là Út Lạng Chượng, văn võ song toàn nhưng không còn đất để cai quản nên mới tập hợp binh mã để đi mở mang đất mới.

Sau khi luyện tập, trang bị vũ khí đầy đủ, ông đã chọn ngày lành tháng tốt để xuất quân qua dốc Khau Cả, Khau Pục lên đến Mường Chiến. Được Tạo Chiến đón tiếp và gả con gái cho, nên Lạng Chượng coi đây là quê ngoại. Đoàn người lại tiếp tục qua Khau Vai, Bản Tọ đến sông Đà thì gặp quân của Khun Quảng (người Khơ Mú) chặn đánh. Đoàn quân bị thiệt hại nặng, phải cho người quay lại Mường Lò chiêu thêm quân tiếp viện mới chiến thắng được. Ông cho quân tiếp tục vượt qua Khau Pha, Kéo Tẽo, đánh quân Quảng Têm, Quảng Mi (người Khơ Mú) vào chiếm Mường La (thành phố Sơn La ngày nay), lập lên Chiềng An, Viêng Hài, Viêng Giảng.

Lạng Chượng giao cho Khun Dãng ở lại xây dựng đất Mường La, còn ông tiếp tục dẫn quân lên Mường Muổi. Tại đây, ông gặp quân Ăm Poi (người La Ha) rất tinh luyện. Đánh không được ông bèn rút quân sang đánh chiếm đất người Xinh Mun (do Khun Kằm làm thủ lĩnh) lập nên Mường Muộk và giao cho Khun Dang. Ông lại dùng mưu kế để giết được thủ lĩnh Ăm Poi và chiếm được Mường Muổi rồi ông giao cho Khun Duỗng cai quản. Ông tiếp tục dẫn quân đi chiếm đất Mường Koài, giao cho Khun Dẹ, chiếm đất Mường Huốk giao cho Khun Dai.

Ông tiếp tục tiến quân lên Mường Ẳng, Mường Phăng rồi đến Mường Thanh rộng lớn. Đây mới là vùng đất mà ông ưa thích, “tròn trĩnh như cạp nong, hơi cong thế sừng trâu”. Ông đã ở lại Mường Thanh cho đến cuối đời, thi hài ông được chôn cất tại quả đồi được gọi là Pom Lạn Chượng (Đồi Lạn Chượng), sau này đổi thành Đồi A1.

Khi ông Lạn Chượng chiếm được đất mường nào, ông đều rải quân cùng thủ lĩnh để cai quản mường đó. Sau đó, ông đã cùng thủ lĩnh các mường xây dựng đất Thái đen liền một giải.

 

  1. d) Nhóm Thái đen 2:

Nhà nghiên cứu Cầm Trọng, lấy tư liệu từ các nhà Thái học quốc tế cho rằng: Từ xa xưa, thủ lĩnh Khun Bó Rôm dẫn đoàn quân hùng mạnh để mở đường cho người Thái Bé (Tay Nọi) từ Nà Nọi đầu nguồn Nậm Rôm đến khai phá cánh đồng rộng lớn và lập nên Mường Thanh. Ở đây họ đã gặp người Thái Lớn (Tay Nháư/ Thay Nhày). Hai ngành Thái này là chủ nhân đầu tiên của đất Mường Thanh vào khoảng đầu Công nguyên. Con của Khun Bó Rôm là Khun Lò chỉ huy đoàn quân dọc theo Nặm Rôm ra Nặm U, rồi ra Mêkông, bị người Khạ đánh chặn, nhưng Khun Lò đã chiến Thắng và lập nên Mường Saova (Sawa). Họ lại cùng với nhóm Thái khác lập nên Mường Lạn Xạng (triệu voi). Hiện nay nhóm Thái Bé này vẫn còn và khi chết họ đưa hồn về với đất tổ là Mường Thanh.

Theo GS Trần Quốc Vượng và nhà nghiên cứu Cầm Trọng, nhóm Thái đen Yên Châu có nguồn gốc từ nhóm Thái Bé (Tãy Nọi) của Mường Thanh xa xưa, di cư qua một vùng đất Phật giáo rồi mới đến vùng Yên Châu sinh sống định cư. Vạt có nghĩa là chùa tháp nói chung, Tãy Vạt có nghĩa là người Thái từ vùng chùa Tháp đến. Và họ đã lập nên Mường Vạt để nhớ đến quê cha, đất tổ của mình. Mặc dù thuộc nhánh Thái đen, nhưng Tãy Vạt có giọng nói khác với người Thái đen 1 mà gần gũi hơn với tiếng Lào hơn. Cách phát âm cũng có khác ở một số âm như: “ch” thành “x”, “k” thành “kh”, “d” thành “nh”, ví dụ gọi Chiễng (Chiềng) là Xiễng, koãi (trâu) là khoãi, dão (dài) là nhão…

 

  1. e) Nhóm Thái trắng 3:

Theo Quam phiết mương Mường Sang (Thơ hoá truyện lịch sử Mường Sang), hoàng tử Nhót-chom-khăm, con của vua Lào đã dẫn đoàn quân được trang bị 800 mác đồng, hàng chục voi chiến và một hòn đá quý làm bả bối đi tìm đất mới để lập bản, dựng mường. Sau những chặng đường dài, đoàn quân đến đất Mường Sang thì hòn đá bả bối đã báo chỗ này là đất tốt. Nhưng chủ nhân của vùng đất này là người Xả Lêm, Xả Le. Họ đã phải trổ nhiều tài mới đuổi được người Xả Lêm, Xả Le đi nơi khác. Thủ lĩnh Nhót-chom-khăm đã phân chia quân tướng cai quản vùng đất Mường Sang. Thời đó, Mường Sang còn mở rông đến tận Đà Bắc (Hoà Bình) và Mường Ét, Xiêng Khọ (CHDCND Lào). So với niên biểu các thủ lĩnh ở Tây Bắc thì thời gian thủ lĩnh Nhót-chom-khăm dẫn quân đến Mường Sang vào khoảng cuối thế kỷ XIII.

 

  1. Vài lời kết luận

Nguồn gốc xa xưa của người Thái theo truyền thuyết có thể là ở phía bắc vịnh Hà Nội trong thời kỳ biển dâng Flandri cách đây khoảng bốn nghìn năm. Tuy vậy, người Thái ở Sơn La gồm 5 nhóm khác nhau, mỗi nhóm đều có nguồn gốc riêng.

Nhóm Thái trắng 2 nhóm là có mặt sớm nhất, có thể họ chính là chủ nhân đầu tiên của vùng đất tổ này. Nhóm Thái đen 1 thì chắc chắn là từ Mường Lò sang, nhưng trước đó, tổ tiên họ từ đâu đến cũng chưa rõ. Người Thái đen chết đều đưa hồn về Mường Lò và đều phải qua Nặm Ta Khái lên trời. Có thể tổ tiên họ cũng là chủ nhân của vùng đất phía bắc vịnh Hà Nội thời biển tiến Flandri.

Các nhóm khác đều từ nơi khác di cư tới. Trong đó nhóm Thái trắng 1 (Tay Chiên, Tay Chiến) có nguồn gốc từ nước Nam Chiếu vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất. Nhóm Thái đen 2 (Tay Vạt) có nguồn gốc từ Tay Nọi Mường Thanh, di cư qua đất Phật rồi đến Mường Vạt định cư. Còn nhóm Thái trắng 3 (Tay Sang) thì từ bên Lào sang sau cùng.

Năm nhóm Thái có những đặc điểm khác nhau như giọng nói, cách ăn mặc, và một số phong tục tập quán. Nhưng họ đều có chung một đặc điểm của dân tộc Thái là: Có tiếng nói và chữ viết cơ bản giống nhau; trang phục nữ cơ bản thống nhất; có sách sử (Quãm tỗ mưỡng) cơ bản giống nhau. Họ sống với nhau rất đoàn kết, coi các nhóm Thái là một. Không chung bản nhưng chung vùng; không chung mường nhưng chung phương, chung con sông Hồng, Đà, U, Khong (Báu huôm bản hák huôm phường, báu huôm mưỡng hák huôm phổng, huôm bó nặm Tẽ, Tao, Ù, Khòng).