Ca Chung xin cung cấp những tư liệu đáng quan tâm:

NGUỒN GỐC XA XƯA CỦA NGƯỜI THÁI THEO TRUYỀN THUYẾT LÀ Ở PHÍA BẮC VỊNH HÀ NỘI TRONG THỜI KỲ BIỂN DÂNG FLANDRI.
Theo Quam tô mương (kể chuyện mường), cuốn sử thành văn của người Thái, nguồn gốc xa xưa nhất của người Thái được nêu trong 6 câu văn vần như sau:
1. Chiêm té có pên đin pên nhả (Kể từ khi sinh đất sinh cỏ)
2. Có pên phạ to thuông hết (Sinh trời bằng chóp nấm)
3. Có pên đin chết ton (Sinh đất có bảy vùng)
4. Có pên hin xam xảu (Sinh ra núi ba hòn)
5. Có pên nặm cảu quẽ (Sinh ra nước chín dòng)
6. Có pên pák Tẽ – Tao (Sinh ra cửa Đà – Thao)

Chúng ta hiểu như sau:
– Câu 1 và 2: nói đến không gian hoang sơ trước khi sinh ra tổ tiên xa xưa.
– Câu 3 và câu 5: Qua nghiên cứu nhiều tư liệu cổ, có thể hiểu là tổ tiên xa xưa nhất của người Thái ở bảy (VII) vùng đất và chín (9) dòng sông như sau:
Vùng đất I: 1. Nặm Sang (Sông Gâm); 2. Nặm Lò (Sông Lô)
Vùng đất II : 3.Nặm Cháy (Sông Chảy)
Vùng đất III: 4.Nặm Tao (Sông Hồng/đoạn cuối sông Đà)
Vùng đất IV: 5.Nặm Tẽ (Sông Sông Đà)
Vùng đất V: 6.Nặm Ma (Sông Mã)
Vùng đất VI: 7.Nặm Rôm (Sông Nậm Rốm)
Vùng đất VII: 8.Nặm U (Sông U); 9.Me Khong (Sông Mê Kông)

– Câu 4: Núi ba hòn (Hin xam xảu) được cả người Thái và người Tày giải thích khá thống nhất là: Ngày xưa, trong trận nạn hồng thuỷ (có thể ở thời kỳ biển dâng Flandri cách nay 4 nghìn năm), nước ở các con sông đều dâng lên ngập hết mặt đất, chỉ còn thấy ba ngọn núi như hình cái quạt, người Thái gọi là Pha Vĩ (nghĩa là Núi Quạt), người Tày gọi là Phya Vì (cũng có nghĩa là Núi Quạt). Ba ngọn núi đó chính là ba ngọn núi Tam Đảo.
– Câu 6: Cửa Đà – Thao (pák Tẽ – Tao) tức là nơi sông Đà đổ vào sông Hồng. Đó là Bạch Hạc, thành phố Việt Trì ngày nay.
Cho đến nay, ký ức và tiềm thức của người Thái vẫn còn lưu lại nhiều hình ảnh liên quan đến nước hay thuyền. Thậm chí, nước và thuyền đã trở thành một trong những tín ngưỡng truyền thống của cư dân nói tiếng Thái. Khi đưa hồn người chết, người Thái thường bỏ tiền vào túi treo lên cổ người chết để làm tiền qua đò sông “Nặm Ta Khái”. (Có thể người Thái xưa kia ven vịnh Hà Nội đã coi biển là con sông lớn, bên kia là trời, muốn lên trời phải đi qua con sông lớn này. Con sông lớn này về sau đã trở thành sông “Nặm Ta Khái” huyền thoại, vì biển đã rút đi xa không còn thấy nữa). Ở Mường Tấc, khi tiễn hồn ma về với tổ tiên phải chặt cây chuối hay tre nứa đóng bè để vượt suối đến sông lớn rồi mới lên trời. Ở Yên Châu trước đây vẫn có tục lệ hàng năm làm lễ tế “Nong Chom” (ao trên đỉnh núi) gắn với truyền thuyết “hưa thong” (thuyền đồng) bay lên đậu trên đỉnh Khau Cản và trở thành thần địa của Mường Vạt. Ngoài ra còn rất nhiều truyền thuyết về “tô ngượk” (thuồng luồng),” tô luỗng” (con rồng) liên quan đến nguồn nước, người Thái vẫn còn lưu lại tới ngày nay.

NGƯỜI NÓI TIẾNG THÁI (Thái, Tày, Nùng, Sán Chay, Giáy, Lào, Lự, Bố Y) LÀ MỘT TRONG NHỮNG CHỦ NHÂN QUAN TRỌNG CỦA CỦA NỀN VĂN HOÁ PHÙNG NGUYÊN VÀ ĐÔNG SƠN.
Trên các di chỉ khảo cổ học, nhiều nhà khoa học nhận thấy vết tích của người nói tiếng Thái (người thuộc ngữ hệ Thái) còn lưu lại khá phổ biến trên nền văn hoá Phùng Nguyên. Những hình vẽ như mặt trời, con chim, nhà sàn… trên mặt các trống đồng Đông Sơn rất giống với các nội dung trong truyền thuyết của người nói tiếng Thái. Tiêu biểu là 28 ký tự cổ được phát hiện trên 4 chiếc quai đồng Đông Sơn, gần giống chữ Thái ngày nay.
“…Văn hoá vật chất được lưu lại trong lòng đất (văn hoá khảo cổ học) lại phản ánh mô hình văn hoá của người trồng lúa nước cư dân nói tiếng Thái mà chủ nhân nền văn hoá Phùng Nguyên đã để lại. Đấy là chưa nói tới khả năng chủ nhân của nền văn hoá Phùng Nguyên có thể chính là người Tày – Thái cổ…” (GS. Phạm Đức Dương: Những vấn đề lịch sử Đông Nam Á. Viện Đông Nam Á, Hà Nội, 1983, tr 132-133)
“… Cho đến nay, hầu hết các di chỉ đó vẫn là địa bàn sống của các lớp dân cư nói tiếng Thái. Sự trùng lặp này cho dù là rất ngẫu nhiên, nhưng lại cho biết một điểm khá rõ ràng: Phải chăng, tổ tiên của cư dân nói tiếng Thái hiện nay ở các địa điểm trên đã từng tham gia sáng tạo nên các di chỉ văn hoá Đông Sơn ở nước ta”. (GS Hà Văn Tấn: Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam. Nxb KHXH, Hà Nội 1994).
“Như vậy, có thể nói rằng trước khi hình thành đồng bằng Bắc Bộ cách đây khoảng trên 4000 năm do biển lùi sau thời kỳ biển tiến Flandri thì xung quanh vùng vịnh này đã từng có cư dân người nói tiếng Thái cổ sinh sống. Với loại hình kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, địa bàn sinh tụ của họ có thể bao gồm một vùng rộng lớn, đó là lưu vực các con sông Thao, sông Đà, sông Chảy, sông Lô, sông Mã… Với giới hạn cực nam là vùng vịnh Hà Nội, và giới hạn bắc là sông Tây Gianh”. (GS Phạm Đức Dương: Cội nguồn mô hình văn hoá lúa nước. Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 5, 1982, tr 50).
Đến đây, từ nhiều nguồn sử liệu khác nhau, ta nhận ra rằng: người nói tiếng Thái cổ là một trong những chủ nhân quan trọng của nền văn minh lúa nước, không những thế, họ còn là một cư dân sông nước. Tuy hiện nay địa bàn sinh tụ của họ là hầu hết ở miền núi, nhưng đó lại là những nơi gần nguồn nước, lấy nước làm tiêu chuẩn hàng đầu cho việc lập bản mường của họ.
NƯỚC VĂN LANG CỦA CÁC VUA HÙNG VẪN CÒN NHIỀU VẾT TÍCH CỦA NGƯỜI NÓI TIẾNG THÁI CỔ.
Trong các địa danh xung quanh đền Hùng hiện nay, có tới 50% tên gọi có từ “nà” (ruộng), một từ chỉ có trong ngôn ngữ Tày – Thái. Theo GS Trần Quốc Vượng, các vua Hùng thời đó còn được gọi là “Po Khun”, đây cũng là một từ chỉ có trong tiếng Thái, “po” là bố, “khun” chỉ một vị quý phái rất quan trọng trong xã hội. Từ Hùng chữ Hán cũng được phát âm là “Khun”. Trong các tác phẩm dân gian của người Thái, từ “Khun” với nghĩa như trên rất phổ biến như: Khun Chương, Khun Lú, Khun Tính, Khun Tấng, Khun Trai…
“Phù Đổng” cũng là một từ liên quan đến tiếng Thái. Phù là núi, đổng (hay đông) nghĩa là rừng rậm, “Phù Đổng” có nghĩa là người ở rừng rậm. Chúng ta đều biết Phù Đổng là người Gia Lâm, trong lịch sử có ghi lại chuyện bà thân sinh của vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) khi về thăm quê đã phải vượt qua những khu rừng rậm đó ở Gia Lâm. Trong lễ hội Thánh Gióng, nhân dân thường nhắc đến hai địa danh: “Trại nòn” – nơi sinh ra Thánh Gióng và “Lang Na” – nơi rèn áo và ngựa sắt,. Hai địa danh này đều bắt nguồn từ tiếng Thái (“nòn” là ngủ/ nằm, “na” là ruộng). (Đóng góp của nhóm ngôn ngữ Tày – Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Nxb ĐHQG Hà Nội, 2006,tr 59).

THỤC PHÁN – AN DƯƠNG VƯƠNG CHÍNH LÀ NGƯỜI NÓI TIẾNG THÁI CỔ
Các tư liệu về Thục Phán – An Dương Vương và nước Âu Lạc còn rất nghèo nàn và mâu thuẫn nhau. Nên về nguồn gốc Thục Phán vẫn chưa thống nhất. Chủ yếu là lấy trong các thư tịch của Trung Quốc.
Các thư tịch Trung Quốc đều ghi là Thục Phán là con của vua Thục, lập nước Âu Lạc năm 257 TCN. Nhưng vua Thục nào thì không ghi rõ. Các nhà nghiên cứu sử Việt Nam trước đây cho là vua nước Ba Thục ở Tứ xuyên Trung Quốc. Nhưng theo sử Trung Quốc, nước Ba Thục đã bị nhà Tần tiêu diệt từ năm 316 TCN. Vua thục cuối cùng là Khai Minh đã bị giết ở Vũ Dương, thái tử con vua Thục cũng đã bị giết ở Bạch Lộc Sơn.
Đến thời Nguyễn, trong “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, các sử gia đã có thái độ hoài nghi và đề xuất Thục Phán không phải con vua Thục ở trung Quốc mà có thể xuất thân từ một bộ lạc “ngoài cõi Tây bắc, giáp nước Văn Lang mà sử cũ ghi là Thục Vương”. (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr 9).
Đầu thế kỷ XX, Ngô Tất Tố và Trần Trọng Kim cũng đã rất nghi ngờ. Sau năm 1945, GS Đào Duy Anh, cho là: có thể con cháu của vua Thục đã lưu lạc tới địa bàn người Thái và người Việt để tránh quân nhà Tần và tập hợp nên bộ lạc mới rồi tự xưng là Thục Vương. Tuy nhiên chính ông cũng tự nhận thấy sự thiếu cơ sở thuyết phục trong nhận định của mình. GS Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn thì phỏng đoán: Thục Vương trong thư tịch cổ không phải là vua nước Ba Thục mà chỉ là tù trưởng của một bộ lạc tự xưng là Thục Vương.
Đến năm 1993, với việc Tạp chí nghiên cứu lịch sử công bố truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” (chín chúa tranh vua) của người Tày, nhiều vấn đề về nguồn gốc Thục Phán đã dần dần được sáng tỏ. Theo truyền thuyết thì Thục Phán là con Thục Chế, vua nước Nam Cương, gồm mười xứ mường, trong đó có một xứ mường trung tâm là nơi vua ở, còn chín xứ mường xung quanh do chín chúa mường cai trị. Thục Chế chết, Thục Phán lên làm vua, tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã dùng mưu trí quy phục được chín chúa mường, xây dựng nước Nam Cương hùng mạnh. Thục Phán đã lãnh đạo bộ lạc đánh thắng nước Văn Lang, lập ra nước Âu Lạc. Truyền thuyết này còn được minh chứng bằng những di tích, di vật và địa danh cụ thể. (Văn hoá lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002, tr 54; 57-59)
Sau công bố này, các nhà nghiên cứu đã hướng về vùng núi phía Bắc để tìm quê hương Thục Phán và tin rằng Thục Phán là thủ lĩnh một liên minh bộ lạc người Tây Âu. Một số chuyên gia hàng đầu cũng đã điều chỉnh lại chủ thuyết của mình. GS Đào Duy Anh đã viết: “Chúng ta có thể nói một cách đại khái rằng miền nam sông Tả Giang và lưu vực sông Hữu Giang cùng với vùng thượng lưu các sông Lô, sông Gâm, sông Cầu là địa bàn sinh tụ của những bộ lạc Tây Âu hợp thành bộ lạc liên hiệp Nam Cương mà Thục Phán là tù trưởng tối cao”. (Đào Duy Anh. Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb KHXH, Hà Nội, 1964, tr 20-22).
Năm 1969, Nguyễn Linh với bài Bàn về nước Thục của Thục Phán lại đưa ra một thuyết mới về Thục Phán. Tác giả cho rằng trong thư tịch cổ có ghi là nước Tây Thục, tức là ở phía tây bắc nước ta hiện nay. (Nguyễn Linh, Bàn về nước Thục của Thục Phán , T/c NCLS, sô124, 7/1969, tr 33-51).
Như vậy cũng có thể bộ lạc Tây Âu của Thục Phán sẽ gồm cả vùng Tây Bắc Việt Nam hiện nay.
Nhà Thái học Cầm Trọng, khi nghiên cứu sử thi “Táy Pú Xớc” đã đưa ra một gợi ý là Thục Phán chỉ là tên phiên âm Hán – Việt của từ Túc Phắn, mà Túc Phắn là một nhân vật trong Táy Pú Xớc (nghĩa của “túc phắn” là thủ lĩnh chinh chiến). Giả thuyết này đã được GS Trần Quốc Vượng và nhiều người nghiên cứu lịch sử – văn hoá Việt Nam đồng tình. (Văn hoá lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002, tr 34).
Tâm thức dân gian vùng Cổ Loa luôn ghi nhớ về nguồn gốc “người thượng du”, “một tù trưởng miền núi” của vua Thục, nhiều vị tướng tài của An Dương Vương cũng đều là người miền núi như: Nồi Hầu, Niệm Hưng, Niệm Hải…
Việc thờ cúng An Dương Vương đã trở thành truyền thống văn hoá tín ngưỡng lớn ở Cổ Loa. Lễ tế hàng năm và lễ cúng Tết của người Cổ Loa không thể thiếu món bánh chưng tròn dài, gọi là bánh chưng Tày, là loại bánh chưng phổ biến nhất của người Thái và người Tày cho tới ngày nay.
Truyền thuyết An Dương Vương xây thành Cổ Loa ẩn chứa nhiều chi tiết gợi ra mối dây liên hệ giữa vùng đất Cổ Loa với các bộ tộc Thái – Tày xưa.
Thần Rùa giúp An Dương Vương diệt yêu quái là tinh Gà Trắng và xây thành không bị đổ đã thành biểu tượng trong quan niệm truyền thống của các dân tộc nói tiếng Thái. Ở cột thiêng (xau hẹ) của nhà người Thái bao giờ cũng treo một mui rùa hoặc hình rùa bằng gỗ để tưởng nhớ đến thần rùa đã dạy cho người Thái cách làm nhà. Nhà sàn người Thái đen trước đây đều phải có “tụp cống” (trái khum) để ngôi nhà có hình giống con rùa. Người Thái cũng như người Tày đều kiêng nuôi gà trắng, khi có gà trắng (do hiện tượng lại giống) thì coi là điềm gở. Vì họ cho rằng gà trắng là “vật ký tác linh hồn”, là “bóng đêm và sự chết chóc”.
Liên quan đến thần Rùa, người Thái còn lưu truyền câu chuyện dân gian như sau: Ngày xưa, tất cả loài vật trên thế gian đều sống ngang quyền nhau, loại nào cũng biết nói. Một hôm, để thử lòng các loài vật, Then (Chúa Trời) giả vờ chết. Các loài vật dưới trần gian đều lên trời để chịu tang. Con rùa vốn chậm chạp nên đi từ rất sớm, nhưng đến giữa đường gặp một cây gỗ to đổ chắn ngang đường, rùa không bò qua được, định tránh thì cây rất dài, nên đành dừng lại để chờ các loài vật đi qua nhờ giúp đỡ. Các loài vật đi qua, không loài nào chịu giúp rùa. Khi con muỗi đi qua, chúng tâm sự với nhau: Tối qua tao vào đốt Then, còn bị Then đập suýt chết, sao lại chết được nhỉ. Đến loài người đi qua, thấy thương tình, người cúi xuống bê con rùa cắp vào nách đi cùng. Không may, rùa ị đùn vào nách nên nách người mới có mùi hôi mà người Thái gọi là “ai khỉ táu” (tức là mùi cứt rùa – hôi nách). Để trả ơn con người đã giúp đỡ, rùa mới khuyên con người cách khóc Then. Trong đám tang, hầu hết các loài vật đều tỏ ra khoái trí khi Then chết nên khóc rằng:
Then tai cu hẽn đảy dú,
Pú tai cu hẽn đảy kin.
(Then chết ta càng dễ sống,
Cụ chết ta càng dễ ăn).
Còn loài người, nhờ sự mách bảo của rùa, khóc than rằng:
Then tai cu chí dệt xữ đaư dú,
Pú tai cu chí dệt xữ đaư kin lễ.
(Then chết ta biết sống làm sao,
Cụ chết ta biết ăn làm sao?)
Then nghe rõ từng loài khóc, bực mình bật dậy. Các loài vật chạy tán loạn. Con hoẵng nhảy qua cửa sổ làm mật rơi từ ngực xuống tận móng chân. Con hổ rơi cả sừng, con hươu theo sau nhặt được đội lên đầu nên mới có bộ sừng đồ sộ. Từ đó Then cho loài người làm chúa thể các loài vật trên thế gian. Các loài vật khác không còn biết nói, không còn trí khôn nữa. Còn loài người luôn kính trọng và tôn sùng loài rùa.
Khi nghiên cứu về thành Cổ Loa, các nhà sử học đã nhận ra một điều là: Cấu trúc của thành Cổ Loa rất giống cấu trúc của “Viềng Xam Mứn” (thành Tam Vạn – Điện Biên) và thành Chiềng Mai (Thái Lan). Đặc biệt, giữa các vòng thành lại có các tên gọi các góc từng lớp thành như: “che cuông”, “che tò”, “che nọc”, đây chính là các từ tiếng Thái có nghĩa là: góc trong, góc nối, góc ngoài. Xung quanh khu vực thành còn có các địa danh mang tiên “Viềng” và “Chiềng”, là các từ chỉ có trong tiếng Thái.
Tóm lại, ta đã có bằng chứng để khẳng định:
1. Nguồn gốc xa xưa của người Thái theo truyền thuyết là ở phía bắc vịnh Hà Nội trong thời kỳ biển dâng Flandri.
2. Người nói tiếng thái cổ (thuộc nhóm ngữ hệ Thái gồm cấc dân tộc Thái, Tày, Nùng, Sán Chay, Giáy, Lào, Lự, Bố Y) là một trong những chủ nhân quan trọng của của nền văn hoá Phùng Nguyên và Đông Sơn.
3. Nước Văn Lang của các vua Hùng vẫn còn nhiều vết tích của người nói tiếng Thái cổ.
4. Thục Phán – An Dương Vương chính là người thuộc ngữ hệ Thái.