Xưa có một cậu bé mồ côi cha mẹ, không nhà cửa, không nơi nương tựa, ngày ngày em phải đi kiếm ăn hết bản này đến mường khác.
Một hôm em lạc đến đất của một tên vua. Tên vua bắt em phải chăn ngựa cho hắn. Từ đấy em phải làm việc vất vả mà ăn đói mặc rách, thậm chí em phải nhai cỏ cùng ngựa để trừ bữa. Sức lực của em ngày càng giảm sút, người em xanh xao, khô đét như con ếch nướng. Thấy em gầy yếu, tên vua thấy ghét nhưng hắn chưa có cách nào để đuổi được. Một hôm, hắn nghĩ ra kế và gọi em đến bảo:
– Này thằng bé! Mày có muốn ở với ta thì đi tìm cho ta một “bông hoa toả sáng ba mường” nghe chưa?
Chẳng biết bông hoa toả sáng ba mường như thế nào, nhưng theo lệnh vua em cứ phải ra đi. Rời khỏi kinh thành em cứ theo hướng mặt trời mọc mà đi, đi mãi, núi rừng ngày một mờ dần phía sau lưng em. Một hôm, đến ngã ba dòng sông, em gặp một ông già tóc bạc phơ. Em chắp tay kính cẩn chào hỏi:
– Cụ ơi, cụ biết ở đâu có bông hoa toả sáng ba mường, xin cụ làm ơn chỉ dùm cháu. Vì cháu phải tìm bông hoa ấy về cho nhà vua.
Ông già nhìn từ đầu đến chân cậu bé rồi chậm rãi nói:
– Ta đã sống trên trái đất này hơn một nghìn năm rồi nhưng chưa hề nghe ai nói là có bông hoa lạ ấy. Cháu cứ đi theo hướng đông này mà hỏi, may có người biết. Rồi ông già tỏ vẻ ngần ngại nói tiếp:
– Thương cháu ta không có gì cho. Cháu mang theo cái nồi này để nấu ăn. Khi nào cháu thấy đói là bỏ gạo vào nồi là tự khắc chín chứ không cần lửa.
Không nản lòng, em bé cảm ơn ông già rồi theo hướng mặt trời mọc mà đi. Đến một đỉnh núi cao, em lại gặp một ông già râu tóc trắng như bọt nước. Em lại chắp tay kính cẩn chào hỏi:
– Cụ ơi, cụ có biết ở đâu có bông hoa toả sáng ba mường, xin cụ làm ơn chỉ dùm cháu với, cháu phải đi tìm bông hoa ấy cho nhà vua mà.
Suy nghĩ một lát rồi ông cụ lắc đầu:
– Bông hoa toả sáng ba mường à! Ta đã sống trên hai nghìn năm ở trái đất này, nhưng chưa nghe ai nói có thứ hoa kì lạ ấy. Cháu thử đi theo hướng đông này đến mường bên hỏi xem có ai biết không. Mà này, đường còn xa. Ta chẳng có gì cho cháu. Cháu hãy cầm vật này đi dọc đường khi gặp nguy hiểm dùng nó hộ thân.
Nói đoạn, ông cụ đưa bộ xà tích cho em bé. Em bé cầm lấy bộ xà tích rồi tiếp tục đi. Đường đi mỗi lúc một khó khăn. Nhưng dốc núi đèo cao càng làm cho đôi chân em thêm cứng cáp, rừng sâu núi thẳm càng làm cho đôi chân em thêm vững chí. Em cứ thế đi, đi mãi. Và đến nay em đã trở thành một chàng trai cường tráng. Hôm ấy, chàng (em bé trước kia) đến một khu rừng rậm. Ở đây có một túp lều nhỏ dựng bên dòng suối trong xanh, mát rượi. Chàng bước lại gần thì thấy một ông già tóc bạc phơ, râu trắng như bông và dài chấm đất. Chàng nhích lại gần rồi kính cẩn chắp tay chào hỏi:
– Cụ ơi, cháu phải đi tìm cho nhà vua một bông hoa toả sáng ba mường. Cháu đã đi khắp rất nhiều nơi mà vẫn chưa tìm thấy. Cụ biết, xin cụ làm ơn chỉ dùm cháu với.
Cụ già nhăn trán suy nhĩ một lúc rồi lắc đầu:
– Ta sống trên trái đất đã hơn ba nghìn năm mà chẳng hề nghe thấy ai nói có bông hoa kì lạ ấy. Cháu thử ra cái hồ ở sau khu rừng này tìm xem may ra thấy. Nhưng đây, ta cho cháu cái túi này, khi nào cháu cần gì cứ bảo nó đi lấy hộ.
Sáng hôm sau, chàng trai dậy thật sớm, rẽ cây vạch lá tìm đến bờ hồ ngồi đợi. Mặt trời đã nhô lên khỏi đỉnh núi, mây mù tan dần về phía trời xa xăm. Bỗng, từ trên trời có ba bông hoa trắng từ từ rơi xuống. Hoa rơi đến đâu ánh hào quang toả sáng đến đấy. Chàng trai đang phân vân không biết nên chọn lấy bông hoa nào thì tự nhiên trong ánh hào quang ấy ba cô gái xuất hiện với dáng điệu uyển chuyển mềm mại, da dẻ hồng hào, xinh đẹp vô cùng. Ba cô cởi xiêm áo để trên bờ rồi cùng nhau xuống hồ tắm. Chàng trai thầm ước lấy được một cô làm vợ thì tự nhiên một bộ xiêm áo của một trong ba cô gái ấy bay vào túi của chàng.
Tắm xong, khi lên bờ, cô em út lúng túng vì không thấy xiêm áo của mình. Thấy vậy, chàng trai liền gọi hai cô chị đến và kể rõ đầu đuôi sự việc rồi trả cho cô em bộ xiêm áo từ túi của mình. Để đền ơn, ba cô tặng chàng trai cái trống và hẹn nếu gặp khó khăn, hãy đánh trống này sẽ thấy các cô đến giúp. Nhưng nhớ rằng nếu anh cần một thì đánh một, cần bao nhiêu thì đánh bấy nhiêu. Nói đoạn cả ba cô gái cùng bay lên trời.
Vô cùng sung sướng chàng quyết định không đi tìm bông hoa toả sáng ba mường nữa và quay về. Về đến kinh thành, chàng trai không thèm lên yết kiến vua mà cứ ngày ngày nhờ chiếc túi vào cung lấy vàng bạc, châu báu đem về chia cho người nghèo. Của cải của vua mất dần, vua lấy làm ngạc nhiên bèn cho quân lính đi dò xét.
Một hôm, bọn lính đến nhà chàng trai nọ, thấy có nhiều của quý, bọn chúng sinh nghi. Chúng hỏi, chàng trai trả lời rằng: “Trong nhà ta không thiếu gì những của quý. Khi ta cần những thứ ấy tự khắc bay đến với ta”.
Bọn lính chạy về tâu với nhà vua. Đoán biết được việc làm của anh, vua tức giận sai lính đi bắt anh về xử tội. Thấy bọn lính của nhà vua đến, anh vẫn đàng hoàng uống rượu và tỏ lời thách thức:
– Ta không gây sự với các ngươi. Nếu các ngươi cứ cố tình bắt ta, khi ta đã nổi nóng thì các ngươi đừng có hối hận.
Trước thái độ ngạo mạn của chàng trai, bọn chúng tức giận vô cùng vì cho đấy là điều vô lễ của kẻ thường dân đối với quân lính và ngang ngược chống lại vua. Bọn lính xông vào. Chàng trai bình tĩnh quăng dây xà tích ra trói gọn từng tên rồi nện cho mỗi đứa một nhát vào đầu, bọn chúng chết cả lũ. Tin ấy đến tai vua, hắn phát khùng bèn sai bọn lính còn lại ồ ạt kéo đến nhà bắt chàng. Nhưng hết tên này đến tên khác, hết bọn này đến bọn kia, chẳng đứa nào kịp trở tay. Còn vài đứa không dám xông vào, sống sót thì “dựng ngược tóc chỏm” mà chạy bán sống bán chết “đánh rơi” hết lệnh của nhà vua ra khỏi trí nhớ. Từ đó chàng trai tha hồ sai túi đến nhà vua lấy các thứ của cải, vàng bạc về chia cho mọi người nghèo khắp bản dưới mường trên.
Bị mất hết của cải và quân lính, tên vua cùng vợ con hết cách sống và lần lượt “biến” thành nguồn thức ăn của giun, mối.
Chàng thanh niên nọ lại vui sướng đem trống ra gõ. Sau ba tiếng trống của anh, lập tức ba cô nàng tiên từ trên trời bay xuống và nàng thứ ba – nàng xinh đẹp nhất – lấy chàng làm chồng. Từ đó, chàng trai cùng toàn dân trong mường làm chủ sông núi và mãi mãi tự do, hạnh phúc.